Góc kỹ thuật
Nguyên tắc 4 đúng khi bón vôi
Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ vừa nghiên cứu và xây dựng thành công nhiều mô hình bón vôi cải tạo đất chua phèn trên các vườn cây ăn trái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long bị suy thoái sau nhiều năm khai thác để chuyển giao cho nông dân nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Theo khuyến cáo, muốn bón vôi có hiệu quả bà con cần tuân thủ theo nguyên tắc 4 đúng: đúng loại, đúng lượng, đúng thời điểm và bón đúng cách.
Bón đúng loại vôi: Có 3 loại vôi chính dùng để bón cải tạo đất: bột đá vôi (CaCO3), vôi nung (CaO) và vôi tôi (Ca(OH)2), tùy theo tình trạng suy thoái cụ thể của từng loại đất và tác dụng của từng loại vôi mà sử dụng cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Bón đúng lượng cho từng loại đất: Lượng vôi cần sử dụng cho từng loại đất cần căn cứ vào 3 yếu tố sau đây: tùy thuộc vào độ chua của đất (độ pH). Đất bị chua nhiều cần bón nhiều vôi, đất ít chua bón ít vôi hơn. Đất sét bón nhiều vôi nhưng nhiều năm mới bón lại trong khi với đất cát thì không nên bón một lần với lượng quá nhiều vì nó có thể làm ức chế sự hấp thụ một số dưỡng chất khác. Tùy thuộc vào lượng chất hữu cơ trong đất: đất nhiều hữu cơ bón nhiều vôi, nhiều năm bón lại; ngược lại nếu đất ít hữu cơ nên bón lượng ít hơn nhưng nên bón vôi thường xuyên hơn.
- Với đất sét, nhiều chất hữu cơ: nếu độ pH từ 3,5-4,5 cần bón 2 tấn vôi/ha; pH từ 4,6-5,5 bón 1 tấn vôi/ha; pH từ 5,6-6,5 bón 0,5 tấn vôi/ha, pH > 6,5 không cần bón vôi.
- Với đát cát, ít chất hữu cơ: nếu độ pH từ 3,5 đến 4,5 bón < 1 tấn vôi/ha; pH từ 4,6-5,5, bón < 0,5 tấn vôi/ha; pH từ 5,6-6,5, bón < 250 kg vôi/ha; pH >6,5 không cần bón vôi.
Sau vài năm nếu bà con muốn bón vôi lặp lại thì cũng nên kiểm tra lại độ pH trước khi quyết định lượng vôi cần bón cho thích hợp.
Bón đúng thời điểm:
- Với vườn cây kiến thiết cơ bản (chưa cho thu hoạch) có thể bón bất cứ vào thời điểm nào trong năm, tuy nhiên tốt nhất là vào đầu mùa mưa.
- Với các vườn đang cho trái, chỉ nên bón sau khi đã thu hoạch xong kết hợp với các biện pháp chăm sóc khác như cắt cành, tạo hình, bón phân, bồi đắp bổ sung mặt liếp, phòng trừ sâu bệnh… nhằm làm giảm độ chua của đất sau 1 năm cây trồng khai thác đất.
Bón vôi đúng cách: Bón rải đều lượng vôi đã được xác định cho từng loại đất trên mặt liếp rồi dùng cuốc xới sâu 5-10cm để trộn đều vôi với đất rồi tưới nước từ từ, tưới nhiều lần cho vôi hòa tan trong đất mới có tác dụng tốt.
Góc kỹ thuật
Các loại vôi
Vôi bón ruộng:
Canxi (Ca) chiếm tới 30% trong thành phần các chất khoáng của cây. Vôi cung cấp canxi cho cây trồng.
Vôi còn có tác dụng cải tạo đất chua mặn. Vôi tạo điều kiện cho vi sinh vật có ích trong đất hoạt động tốt thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ trong đất.
Vôi làm tăng độ hoà tan các chất dinh dưỡng của cây và tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cho cây.
Vôi có khả năng tiêu diệt một số loài sâu bệnh hại cây. Vôi khử độc cho cây khi trong đất có thừa các nguyên tố Fe, Al, H2S.
* Vôi nghiền:
Đó là trạng thái nghiền thành bột của các loại: đá vôi, vỏ ốc, vỏ sò hến v.v.. Đây là dạng vôi bón ruộng được sử dụng phổ biến. Bột vôi nghiền chứa 50 – 80% chất vôi, ngoài ra còn có một ít Mg.
Vôi nghiền có tác dụng chậm, nên thường được dùng để bón lót lúc làm đất chuẩn bị gieo trồng cây. Lượng vôi nghiền thường dùng là 1 – 3 tấn/ha, tuỳ thuộc vào độ chua và kết cấu của đất.
Ở các chân đất sét, vôi nghiền thường được bón một lần với lượng lớn. Sau đó vài năm, lại bón lần khác. Ở các chân đất cát, vôi nghiền thường được bón hàng năm, nhưng với lượng ít hơn. Khi bón vôi nên kết hợp bón với phân chuồng, phân hữu cơ để làm tăng hiệu quả của cả 2 loại phân.
Không nên bón vôi cùng với bón đạm, vì như vậy sẽ làm đạm bay vào không khí mất.
* Vôi nung:
Đó là vôi được nung từ CaCO3 để tạo thành CaO. Vôi nung hút nước tạo thành vôi bột rồi được sử dụng để bón ruộng. Vôi nung có tác dụng nhanh hơn vôi nghiền.
Vôi nung dùng để xử lý đất, phòng trừ sâu bệnh hại cây. Chú ý là khi sử dụng vôi nung để bón vào đất đã có cây đang phát triển, cần rất cẩn thận vì vôi nung có tác dụng gây hại cho cây khi tiếp xúc trực tiếp với cây.
* Thạch cao:
Đó là dạng sunphat canxi ngậm nước. Đây là một dạng đặc biệt của vôi có tác dụng nhanh.
Thạch cao phát huy hiệu quả cao ở giai đoạn cây đang tạo quả, lạc đang đâm tia xuống đất.
Lượng bón thạch cao thông thường là 200 – 300 kg/ha.
Góc kỹ thuật
Các loại phân tổng hợp
Phân tổng hợp và phân hỗn hợp:
Phân tổng hợp là các loại phân đã được sản xuất thông qua các phản ứng hoá học để tạo thành một thể phân bón gồm nhiều nguyên tố dinh dưỡng. Phân này còn được gọi là phân phức hợp.
Phân hỗn hợp là các loại phân tạo được do quá trình trộn lẫn 2 hoặc nhiều loại phân đơn với nhau một cách cơ giới và đều đặn.
Phân tổng hợp cũng như hân hỗn hợp có các tỷ lệ NPK ở các tổ hợp khác nhau được lựa chọn phù hợp với từng loại đất và từng nhóm cây trồng. Nhiều trường hợp trong phân tổng hợp cũng như phân hỗn hợp còn có thêm cả các nguyên tố Mg, Ca, S và các nguyên tố vi lượng khác.
Trên thị trường hiện đang có các loại phân sau đây:
– Loại 2 yếu tố N và P với tỷ lệ NPK: 18:46:0 và 20:20:0.
– Loại 3 yếu tố NPK với tỷ lệ: 20:20:10 và 15:15:15.
– Loại 4 yếu tố N, P, K, Mg với tỷ lệ: 14:9:21:2; 12:12:17:2; v.v..
Các loại phân tổng hợp và hỗn hợp chỉ phát huy hiệu lực tốt khi được bón đúng với yêu cầu của cây và phù hợp với tính chất của các loại đất. Vì vậy, muốn sử dụng có hiệu quả các loại phân này cần nắm được đầy đủ và cụ thể đặc điểm của cây và tính chất của đất.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học, hiện nay các xí nghiệp phân bón đã sản xuất ra các loại phân tổng hợp và phân hỗn hợp chuyên dùng cho từng loại cây cụ thể, như phân bón cho cao su, cho cà phê, cho chè, cho rau, cho đậu, v.v..
* Phân NP:
Loại phân 2 yếu tố này trên thị trường có nhiều thương hiệu khác nhau.
* Phân amophor:
Có tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng (N, P, K) là: 1:1:0.
Thành phần của phân này gồm: 18% N, 18% P2O5.
Phân có dạng viên rời, khô. Phân có khả năng hoà tan hoàn toàn trong nước.
Thường phân này được sản xuất bằng cách trộn supe lân với sunphat amôn.
Phân này được sử dụng để bón trên đất có hàm lượng kali cao như các loại đất phù sa, đất phèn…
* Phân diamophos (DAP):
Phân có tỷ lệ các chất dinh dưỡng (N, P, K) là: 1:2,6:0.
Phân này được sản xuất bằng cách trộn supe lân kép với sunphat amôn. Phân có thành phần P2O5 – 40%, N – 18%.
Phân có hàm lượng lân cao, cho nên sử dụng thích hợp cho các vùng đất phèn, đất bazan.
Diamophos có thể sử dụng để bón cho nhiều loại cây trồng khác nhau. Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc.
Phân này thường được dùng để bón cho đất có hàm lượng NPK trung bình hoặc các loại đất có N, K2O lớn hơn P2O5. Người ta ít dùng phân này để bón cho đất thiếu kali như đất bạc màu, đất cát nhẹ, đất xám, đất trung tính.
Phân này ít được dùng để bón cho cây lấy củ, bón cho lúa gieo khô…
Phân DAP có đạm, lân dễ tiêu, không làm chua đất.
* Phân hỗn hợp: 20:20:0; 23:23:0; 10:10:0 được sản xuất ra chuyên sử dụng để bón lót vào đất.
* Phân NK:
* Phân kali nitrat: Dạng phân 2 yếu tố chứa 13% N và 45% K2O.
Phân này được dùng để bón cho đất nghèo kali. Thường được dùng để bón cho cây ăn quả, cây lấy củ.
* Phân hỗn hợp: 30:0:10; 20:0:20; 20:0:10.
Các dạng phân này có chưa NK và một số nguyên tố trung lượng. Trong các dạng phân này không có lân. Các dạng phân này được dùng để bón vào cuối thời kỳ sinh trưởng của cây trồng, vì vào thời kỳ này cây không còn yêu cầu đối với lân.
* Phân PK:
* Phân PK 0:1:3 . Người ta sản xuất phân này bằng cách trộn 55% supe lân với 45% KCl.
Phân được dùng để bón cho đất quá nghèo kali như đất bạc màu, đất cát nhẹ v.v.. Phân cũng được dùng chủ yếu để bón cho các loài cây cần nhiều kali như khoai tây, khoai lang, v.v..
* Phân PK 0:1:2 . Được sản xuất bằng cách trộn 65% supe phôtphat với 35% KCl.
* Phân PK 0:1:2 chưa 5,8% P2O5 và 11,75% KCl.
Phân này được dùng để bón cho các loại đất nghèo kali và dùng chủ yếu để bón cho các loại ngũ cốc.
* Phân N, P, K:
- Phân amsuka : có tỷ lệ NPK là 1: 0,4:0,8.
Phân này được sản xuất bằng cách trộn amôn với supe lân đã trung hòa vào muối KCl.
Phân được dùng để bón cho cây có yêu cầu NPK trung bình, bón ở các loại đất có NPK trung bình.
- Phân nitro phoska: có 2 loại
Loại có tỷ lệ NPK: 1:0,4:1,3
Được sản xuất bằng cách trộn các muối nitrat với axit phosphoric. Trong phân có chứa: N – 13%; P2O5 – 5,7%; K2O – 17,4%.
Phân này được dùng để bón cho đất thiếu K nghiêm trọng và thường được dùng để bón cho cây lấy củ.
Loại có tỷ lệ N, P, K: 1:0,3:0,9
Được sản xuất bằng cách trộn các muối nitrat với axit sunphuric. Trong phân có chứa: N – 13,6%; P2O5 – 3,9%; K2O – 12,4%.
Phân được dùng để bón cho nhiều loại cây trồng và thường bón cho đất có NPK trung bình.
- Phân amphoska:
Có tỷ lệ NPK: 1:0,1:0,8
Trong phân có chứa N – 17%; P2O5 – 7,4%; K2O – 14,1%.
Phân này được dùng để bón cho đất trung tính và thường dùng để bón cho cây lấy củ.
- Phân viên NPK Văn Điển:
Có tỷ lệ NPK: 5:10:3
Trong phân chứa NPK, ngoài ra còn có MgO – 6,7%; SiO2 – 10 – 11%; CaO – 13 – 14%.
Phân này thích hợp cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Cách bón và liều lượng bón được dùng như đối với phân lân nung chảy. Đối với cây trồng cạn cần bón xa hạt, xa gốc cây. Sau khi bón phân cần lấp đất phủ kín phân.
Góc kỹ thuật
Cách xác định nhu cầu phân bón
Phân bón đóng vai trò hết sức quan trọng trong tăng năng suất, thâm canh lúa, nhưng nhiều người sử dụng phân không khoa học, gây thất thoát và lãng phí. Viện lúa quốc tế IRRI đã nghiên cứu việc “bón phân theo nhu cầu của lúa”. TS. Phạm Sỹ Tân, Viện lúa ĐBSCL, giới thiệu một giải pháp kỹ thuật mới nhằm hạn chế thất thoát, nâng cao hiệu quả của phân bón cho cây lúa, đó là kỹ thuật “ô khuyết”.
TS. Tân cho biết, bón phân theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng lượng, đúng loại, đúng lúc, đúng cách) là giải pháp tốt, nhưng việc bón đúng lượng một cách chính xác rất khó.
Kỹ thuật ô khuyết giúp xác định vai trò của từng yếu tố phân bón như đạm, lân, kali, trên cơ sở đó quyết định lượng phân thích hợp nhất cho từng giống lúa, từng mùa vụ, từng vùng, từng cánh đồng, thậm chí từng thửa ruộng. Giải pháp này đơn giản, rẻ tiền, dễ áp dụng đại trà.
Bước 1: Xác định năng suất mục tiêu
Xác định năng suất mục tiêu (NSMT) dựa trên số liệu trung bình của 3 năm liền kề. NSMT cần phải cao hơn năng suất trung bình cộng trên 0,5 tấn/ha, nhưng phải sát thực tế, không quá cao hoặc quá thấp.
Bước 2: Xác định nhu cầu dinh dưỡng
Cây lúa hút dinh dưỡng một phần từ đất, một phần từ phân bón. Kết quả nghiên cứu của IRRI cho thấy, để tạo ra 1 tấn lúa, cây lúa phải hấp thu và tích lũy được 15 kg N, 6 kg P2O5, 18 kg K2O. Ví dụ, đặt NSMT là 7 tấn/ha thì cây lúa cần 105 kg N/ha, 42 kg P2O5/ha và 126 kg K2O/ha.
Bước 3: Xác định lượng dinh dưỡng từ đất
Đắp bờ ngăn 3 ô nhỏ liền kề với kích thước 5 x 5 m, mỗi ô ứng với một trong 3 nguyên tố đa lượng bị khuyết (2 nguyên tố kia vẫn được bón đầy đủ). Chú ý không để thiếu nước, bị sâu bệnh, cỏ dại tấn công làm sai lệch kết quả. Cuối cùng lúc thu hoạch, ghi nhận năng suất thực tế từng ô, từ đó tính ra lượng đạm, lân, kali cung cấp cho lúa từ đất (và các nguồn khác như phế phụ phẩm, vi sinh vật, phù sa…). Ví dụ: ô khuyết đạm có năng suất 4,2 tấn/ha, vậy lượng đạm do đất cung cấp là 63 kgN/ha (4,2 tấn x 15 kg N); khuyết lân thì năng suất 5,5 tấn/ha, tính ra lượng lân cung cấp từ đất là 33kg P2O5/ha; khuyết kali thì năng suất 6 tấn/ha, tính ra kali do đất cung cấp là 108 K2O5/ha; như vậy nhu cầu về phân bón sẽ là: 42 kg N/ha (lấy 105 kg trừ đi 63 kg), 9 kg P2O5/ha và 18 kg K2O/ha.
Bước 4: Xác định lượng phân cần dùng
Lượng phân cần bón được xác định theo công thức: FR=Nt – Nđ/Re, trong đó FR là lượng phân cần bón, Nt là tổng lượng dinh dưỡng cần thiết, Nđ là lượng dinh dưỡng cung cấp từ đất, Re là hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây. Chỉ số Re phụ thuộc vào giống cây trồng, đất, mùa vụ và kỹ thuật canh tác; thông thường với phân đạm chỉ số Re = 40 – 60%, với lân Re = 20 – 30%, với kali Re = 40 – 50%. Nt và Nđ được xác định ở bước 2 và 3.
Bước tiếp theo là thiết kế quy trình bón cho từng nhóm giống lúa, từng vùng, từng mùa vụ khác nhau.
Qua các kết quả nghiên cứu, theo cách tính toán như trên thì trong vụ đông xuân cần đầu tư khoảng 100 – 110 kg/ha phân đạm là vừa, vụ hè thu khoảng 70 – 90 kg/ha. Lượng phân lân là khoảng 30 – 60 kg/ha, phân kali 30 – 40 kg/ha. Có thể tăng thêm 10 kg kali mỗi vụ để duy trì hàm lượng kali trong đất ổn định .
Cải tạo đất nông nghiệp bạc màu
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và SXNN bền vững (Trường ĐHNN Hà Nội) cho thấy: do truyền thống canh tác độc canh và kỹ thuật lạc hậu trong thời gian dài của nông dân vùng ĐBSH nên nhiều diện tích ở đây đã bị thoái hoá nghiêm trọng biến thành đất bạc màu, ảnh hưởng lớn đến SXNN....
Những loại đất xấu, đất bạc màu, đất thoái hoá thường mang những nhược điểm gây hại cho cây trồng như đất bị mất tầng canh tác, nghèo kiệt dinh dưỡng, đặc biệt là nghèo chất hữu cơ, bị khô hạn, chai cứng hoặc bị ngập úng nước, bị chua hoá, mặn hoá... do vậy mà hiệu quả SX thu được không cao. Để có thể tiếp tục canh tác được trên vùng đất bạc màu đưa lại hiệu quả kinh tế bà con cần phải cải tạo đất bạc màu bằng các biện pháp tổng hợp như luân canh cây trồng, thâm canh hợp lý, phân bón, thuỷ lợi... sau đây:
- Thuỷ lợi là biện pháp kỹ thuật quan trọng hàng đầu trong việc cải tạo lại đất bạc màu. Việc tưới tiêu nước chủ động, khoa học bằng một hệ thống kênh mương hoàn chỉnh nhằm cải thiện độ phì đất bạc màu, tăng độ ẩm, cải thiện được các đặc tính lý hoá trong đất, làm cho đất tơi xốp hơn, khả năng kết dính tốt hơn, giữ nước tốt hơn, giúp hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt hơn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn.
- Biện pháp hữu cơ bao gồm chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý và tăng cường bón lót bằng các nguồn phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân bắc... để cải tạo và tăng độ phì cho đất. Tuy nhiên khi sử dụng, phân hữu cơ phải được ủ hoai mục để không gây ô nhiễm môi trường và không gây hại cho cây trồng. Ngoài ra có thể sử dụng các loại chất thải nông nghiệp như rơm, rạ, mùn trấu, rác sinh hoạt, than bùn... để SX phân hữu cơ vi sinh dùng làm chất cải tạo đất rất tốt.
- Đa dạng hoá cây trồng nhằm đạt hiệu quả thu nhập cao trên cùng một đơn vị diện tích canh tác đồng thời góp phần cải tạo đất bằng cách trả lại độ màu mỡ lâu dài cho đất bạc màu. Một số công thức trồng trọt có thể áp dụng trên đất bạc màu như:
+ Công thức 2 vụ: gồm 1 vụ lúa và 1 vụ rau màu như ngô khoai, lạc, đậu đỗ xen với rau.
+ Công thức 3 vụ: gồm 1 vụ lúa, 1 vụ rau màu hè thu và 1 vụ rau đông xuân.
Trên những vùng đất bạc màu bà con nên trồng xen hoặc luân canh cây trồng chính với các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh, đậu trạch... vì chúng có khả năng cố định đạm, giúp cải tạo độ phì nhiêu của đất rất tốt.
- Che phủ đất cũng là một biện pháp rất thích hợp đối với những vùng đất bạc màu giúp hạn chế bốc hơi nước, giữ ẩm cho đất, chống gió rét, hạn chế cỏ dại và giữ ấm cho cây trồng, giúp phân phối đều nước không gây úng thối cho cây trồng, giúp hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt sẽ làm cho đất tơi xốp, thoáng khí hơn, giúp cho hệ rễ cây trồng phát triển tốt.
- Biện pháp làm đất: Đặc điểm của đất bạc màu thường là khô, cứng do đó hạn chế xới xáo để tránh mất nước do bốc hơi, nhất là vào thời kỳ khô hạn. Chỉ nên kết hợp xới xáo khi làm cỏ, bón phân, tưới nước. Nếu trồng lúa trên đất bạc màu thì không nên xếp ải dễ làm đất mất thêm nước, hệ vi sinh vật còn sót lại trong đất sẽ bị chết, đất càng trở nên chai cứng hơn; trồng màu thì lên luống cao kết hợp tưới nước theo rãnh là biện pháp tối ưu nhất.
Góc kỹ thuậtPhân bón
Sử dụng phân bón vi sinh thế nào
Phân vi sinh là các chế phẩm chứa các vi sinh vật sống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn. Thông qua các hoạt động, các vi sinh vật tạo ra các chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng làm cho cây trồng phát triển tốt hơn.
Thông
qua việc bón phân vi sinh chúng ta đã cung cấp vào trong đất các vi
sinh vật phân giải đạm, lân có tác dụng như những nhà máy sản xuất phân
đạm, phân lân hoá học ngay trong đất để trực tiếp cung cấp dinh dưỡng
cho cây trồng. Sử dụng phân vi sinh có thể thay thế được lượng phân đạm
và phân lân hoá học từ 50 đến 100% tuỳ theo từng loại cây trồng. Hơn thế
khi sử dụng phân vi sinh nông sản không bị nhiễm độc, lượng độc tố NO3
tồn đọng trong sản phẩm giảm đáng kể. So với phân hoá học, đặc biệt là
phân urê thì giá phân vi sinh rẻ hơn do đó hiệu quả thu được cũng cao
hơn.
Phân
vi sinh có thể dùng để bón cho tất cả các loại cây trồng từ cây ăn quả,
chè, lúa, ngô, rau xanh đến cây cảnh… đều rất tốt. Do tác dụng chậm hơn
so với phân hoá học nên đối với các loại cây trồng ngắn ngày, phân vi
sinh chủ yếu được dùng để bón lót nhiều hơn là bón thúc. Các loại cây
thu hoạch theo mùa vụ thì sau mỗi đợt thu hoạch cần bón bổ sung. Khi bón
phân vi sinh cho cây ăn quả bà con nên bón vào 2 thời kỳ mưa xuân
(tháng 3-4) và mưa ngâu (tháng 7-8) để tận dụng độ ẩm của các đợt mưa
này giúp các vi sinh vật hoạt động tốt hơn.
Cách
bón: với cây ăn quả và cây lâu năm bón theo hình chiếu tán cây sau khi
cuốc và xới nhẹ xung quanh gốc cây, rắc phân và lấp một lớp đất mỏng phủ
lên trên với liều lượng từ 1-2kg/gốc cây. Với cây chè bón vào rãnh giữa
2 luống chè với lượng 0,2-0,3kg/gốc. Với cây lúa bón 10kg/sào Bắc bộ có
thể giảm được 50% phân urê và phân lân (sử dụng bón lót và sau khi làm
cỏ đợt 1). Với cây mạ, nên trộn đều với mầm mạ trước khi gieo (2kg/sào
mạ cấy). Với ngô, bón lót trước khi gieo hạt với lượng 10kg/sào Bắc bộ
cùng với 50% lượng phân urê và 50% phân lân theo qui trình. Khi ngô có
từ 3-4 lá, bón tiếp 10kg/sào Bắc bộ phân vi sinh và tiến hành vun gốc.
Với
cây rau, chủ yếu dùng để bón lót (10-15kg/sào Bắc bộ) thay thế được từ
50-100% lượng phân urê và phân lân. Với các loại rau ăn lá phân vi sinh
có thể thay thế được 50%, rau ăn củ 70% và rau ăn quả 100% lượng phân
urê. Nếu trồng cây cảnh trong chậu, bà con trộn 1kg phân vi sinh với
2-3kg đất bột để bón cho 10 chậu cây và luôn giữ ẩm cho đất thì phân vi
sinh mới phát huy tác dụng.
Một
số lưu ý khi sử dụng phân vi sinh: Muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng
thì trong quá trình bón phân vi sinh nên hạn chế bón phân hoá học. Phân
vi sinh gồm các vi sinh vật sống hoạt động nên không thể để lâu được,
bảo quản nơi thoáng mát: mùa hè 1 tháng, mùa đông 1,5 tháng. Khi bón cần
luôn giữ đủ độ ẩm đất cần thiết để các vi sinh vật trong phân vi sinh
hoạt động tốt. Với các loại đất chua cần phải bón vôi bột trước 2-3 ngày
rồi mới được bón phân vi sinh. Không trộn phân vi sinh với phân hoá học
và tro bếp khi sử dụng sẽ làm chết vi sinh vật.
Góc kỹ thuậtPhân bón
10 nguyên tắc trong sử dụng phân bón
Bón
phân hợp lý cho cây là tìm mọi cách để phối hợp tốt với thiên nhiên để
tạo ra sản phẩm có ích cho con người, chứ không phải là chinh phục, là
áp đặt ý muốn của con người lên thiên nhiên.
Nông
sản là sản phẩm của quá trình chu chuyển vật chất trong thiên nhiên,
cho nên con người muốn thu hút được nhiều nông sản thì cần nắm bắt được
các quy luật chuyển hoá vật chất và tác động làm cho quá trình chu
chuyển vật chất diễn ra với quy mô lớn, cường độ mạnh, tốc độ nhanh.
Bón
phân là để tác động lên quá trình chu chuyển vật chất trong tự nhiên.
Việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng không hoàn toàn là để cây
trực tiếp tạo ra nông sản mà là để phối hợp tốt với thiên nhiên tạo ra
sản phẩm trong quá trình chu chuyển vật chất.
Hai là:
Đối với thiên nhiên mọi tác động chỉ cần vừa đủ, mọi thứ thừa hay thiếu đều gây hại cho mọi hoạt động bình thường của nó.
Theo cảm tính, nhiều người cho rằng cái gì đã tốt thì càng nhiều càng tốt, cái gì đã xấu thì càng nhiều càng xấu.
Bón
phân quá nhiều hoặc với liều lượng cao đều gây tai hại cho cây, thậm
chí làm cho cây chết. Nguyên tố đồng (Cu) là phân vi lượng đối với cây,
nhưng phun với nồng độ cao (trên 1%) làm cho lá cây bị cháy. Trong việc
bón phân cho cây, điều quan trọng là không những không để cây bị thiếu
đói, mà phải không bón thừa bất cứ chất dinh dưỡng nào cho cây.
Cần
lưu ý là sức chịu đựng cũng như mức độ tiếp thu các tác động từ bên
ngoài của các bộ phận trên cây rất khác nhau. Đối với một loại phân bón,
có thể đối với bộ phận này là thừa nhưng đối với bộ phận khác lại là
chưa đủ. Chính vì thế mà có những loại hoá chất chỉ có thể bón cho cây
vào đất mà không thể phun lên lá được.
Điều
đáng chú ý là cho đến nay, trồng trọt, do tâm lý sợ thiếu cho nên người
nông dân đã làm nhiều việc quá thừa, trong khi đó nhiều việc cần làm
lại không biết làm.
Nếu
có những hiểu biết đầy đủ hơn về cây trồng, hiểu được những nhu cầu của
cây và con đường mà thiên nhiên thường đáp ứng nhu cầu cho nó, hiểu
được các mối quan hệ giữa các loài sinh vật trong hệ sinh thái, con
người có thể tiết kiệm được bao nhiêu việc làm thừa đồng thời chỉ cần
tiến hành những việc làm thật hợp lý để đạt được những khối lượng nông
sản lớn.
Ba là:
Thiên nhiên còn nhiều điều mà con người chưa biết hết, vì vậy không được chủ quan khi sử dụng phân bón.
Khoa
học ngày càng phát triển nhanh, thành tựu khoa học ngày càng nhiều
nhưng con đường khám phá thiên nhiên đang còn dài và còn nhiều quanh co
khúc khuỷu. Thái độ chủ quan, cho rằng chúng ta đã có những hiểu biết
quá đủ là không phù hợp, là có thể dẫn đến những sai lầm.
Điều
đáng lo ngại là con người coi thường những gì chưa biết trong thiên
nhiên và cho rằng những gì khoa học đã biết đủ cho con người hoạt động
theo ý muốn của mình. Nhiều thất bại trong sản xuất có nguồn gốc từ sự
ngộ nhận này.
Để
có thể bón phân hợp lý, cần thường xuyên quan sát và đúc rút kinh
nghiệm từ thực tiễn sản xuất. Kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều năm
kết hợp với những hiểu biết khoa học, những kết quả của nghiên cứu khảo
nghiệm giúp chúng ta ngày càng nâng cao mức độ hợp lý của việc bón phân.
Bốn là:
Trong
thiên nhiên sống, các loài sinh vật tồn tại và phát triển trong các mối
liên hệ chặt chẽ với nhau và với thế giới không phải sinh vật.
Các
kết quả nghiên cứu khoa học được tiến hành trong các phòng thí nghiệm,
trong các chậu vại, trong các ô thí nghiệm thường rất xa so với điều
kiện môi trường sống của cây trên đồng ruộng. Nhiều trường hợp, muốn có
được kết quả như đã thu được trong phòng thí nghiệm người ta phải đầu tư
rất tốn kém để tạo được môi trường và điều kiện tương tự như trong
phòng thí nghiệm. Khi không có được những điều kiện này, các kết quả
khoa học thường phát huy tác dụng rất kém, thậm chí còn làm nảy sinh
nhiều vấn đề và người nông dân lại phải lao theo để giải quyết. Như thế,
phải làm thừa ra bao nhiêu việc mà đáng lẽ không phải làm.
Thực
tế cho thấy: những phương pháp bón phân nào mà không chú ý đến các loài
sinh vật khác trên đồng ruộng, không chú ý đến các loài sinh vật khác
trên đồng ruộng, không chú ý đến các mối quan hệ chằng chịt giữa chúng
với nhau, thì đó chỉ là những việc làm vô nghĩa và có khi có hại.
Năm là:
Khoa
học phân bón giúp ta bón phân hợp lý, tuy vậy nếu quá chuyên biệt trong
lĩnh vực này sẽ làm cho kiến thức hiểu biết của ta về thiên nhiên trở
nên manh mún và có nguy cơ dẫn đến thất bại.
Các
ngành khoa học ngày càng chuyên hoá để đi sâu tìm hiểu kỹ đối tượng
nghiên cứu. Người ta đã chú ý đến tình trạng này và thấy được nguy cơ
của siêu hình. Vì vậy, đã có nhiều cố gắng để liên kết các ngành khoa
học, nói đến những khoa học liên ngành.
Tuy
nhiên, việc bón phân hợp lý để tạo ra năng suất cây trồng cao, bảo vệ
tốt môi trường không chỉ đơn thuần là sự liên kết, sự giao thoa, sự liên
ngành của một số lĩnh vực khoa học khác nhau, mà là sự tìm tòi nghiên
cứu trong một lĩnh vực khoa học mà đối tượng của nó là sự sống, là quá
trình tạo thành năng suất kinh tế. Đây là một loại đối tượng tổng hợp mà
càng chia nhỏ ra càng chuyên biệt hoá, càng đi xa khỏi bản chất của đối
tượng nghiên cứu.
Sáu là:
Trong
các hệ sinh thái, mỗi tác động từ bên ngoài đưa vào hệ, thường tạo ra
những phản ứng dây chuyền, lan rộng ra trong không gian theo các mạng
lưới dinh dưỡng, năng lượng, thông tin, v.v… và kéo dài theo thời gian,
cho đến khi toàn bộ hệ sinh thái thiết lập được trạng thái cân bằng mới.
Mỗi
hiện tượng xảy ra trong hệ sinh thái đều là kết quả của nhiều nguyên
nhân, mặt khác một nguyên nhân có thể dẫn tới những kết quả khác nhau.
Từ
một hiện tượng là năng suất cây trồng có thể có một chuỗi các nguyên
nhân và kết quả với 7 bậc nhân – quả (xem sơ đồ 3) khác nhau. Trong thực
tế, một hiện tượng xảy ra có thể có nhiều nguyên nhân. Những nguyên
nhân này lại có những nguyên nhân khác đi trước trong một mạng lưới các
sự kiện và yếu tố đan chéo nhau toả ra đến vô tận.
Bón
phân cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau, thường không
chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó mà thường
có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến
những kết quả khác nhau, trong đó có thể có những kết quả mà con người
không ngờ tới.
Do
đặc điểm của quá trình phản ứng dây chuyền và quá trình tiếp nhận các
tác động từ bên ngoài vào các hệ sinh thái mà có thể có những tác động
rất mạnh nhưng không gây ra hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, có những
tác động nhẹ nhàng, nhưng được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo
nên những hiệu quả rất lớn.
Bón phân hợp lý có thể không cần sử dụng những lượng phân bón mà có thể đạt được hiệu quả rất cao.
Bảy là:
Đối với thiên nhiên không có cái gì là tốt, cũng không có cái gì là xấu.
Con
người phân biệt ra trong thiên nhiên có cái tốt, cái xấu. Tốt xấu ở đây
được đánh giá trên cơ sở lợi ích của con người. Từ việc phân chia các
sự vật và hiện tượng thành 2 nhóm tốt và xấu, con người thường cố công
để loại trừ, tiêu diệt những cái xấu và nhân lên, tăng thêm những cái
tốt, với hy vọng là thu được lợi ích lớn. Đối với thiên nhiên, mọi thứ
đều có vị trí của nó và cần thiết cho sự hài hoà và phát triển. Bằng các
tác động đưa thêm các cái “tốt” và loại bỏ các cái “xấu” con người đã
phá vỡ cân bằng trong các hệ sinh thái. Và như vậy, các tác động của con
người đã thúc đẩy hoạt động của cơ chế điều tiết của hệ sinh thái để
thiết lập trạng thái cân bằng. Với hoạt động của cơ chế này, những tác
động của con người bị trung hoà và bị triệt tiêu. Hy vọng thu được lợi
ích lớn không những không đạt được, mà những đảo lộn trong hệ sinh thái
có thể dẫn đến nhiều hiệu quả tiêu cực.
Bón
phân, con người nghĩ rằng đó là đưa điều tốt đến cho cây, vì vậy càng
nhiều càng tốt. Thế nhưng hiệu quả của việc bón phân chỉ có thể thu được
khi bón hợp lý, có nghĩa là phù hợp với hoạt động bình thường của hệ
sinh thái nông nghiệp. Bón phân không hợp lý sẽ gặp phải phản ứng chống
lại của hệ sinh thái đồng ruộng và chỉ có thể dẫn đến những hậu quả xấu.
Tám là:
Trong nông nghiệp, không thể cải thiện thể hữu cơ thống nhất. chỉ bằng cách thay thế từng bộ phận của thể đó.
Cây
trồng, hệ sinh thái nông nghiệp là những hệ thống thống nhất và hoàn
chỉnh. Trong hệ thống đó mỗi bộ phận đều có vị trí và chức năng của
mình. Mỗi bộ phận trong hệ thống được quy định không những chỉ phụ thuộc
vào các yếu tố bên trong bộ phận đó, mà còn phụ thuộc vào các bộ phận
kế cận, các bộ phận xung quanh và vào toàn bộ hệ thống.
Bón
phân cho cây trồng chúng ta muốn tăng chất dinh dưỡng cho cây để tạo ra
nhiều sản phẩm cho con người. Tuy nhiên cây trồng là một bộ phận của hệ
sinh thái đồng ruộng. Chúng ta không thể cải thiện một bộ phận của hệ
sinh thái là cây trồng mà không tính gì đến các bộ phận khác của hệ sinh
thái đó. Nhiều trường hợp bón phân không mang lại kết quả là do chúng
ta gặp phải những phản ứng điều tiết của hệ sinh thái.
Bón
phân hợp lý là có tính toán đầy đủ đến các yếu tố trong hệ sinh thái,
tạo sự hài hoà trong toàn bộ hệ sinh thái đồng ruộng đồng thời thúc đẩy
các hoạt động của toàn bộ hệ sinh thái hướng tới việc tạo ra năng suất
cao.
Chín là:
Nền nông nghiệp tiến bộ phải là nền nông nghiệp nuôi dưỡng được con người cả thể xác lẫn tinh thần.
Bón
phân là để làm tăng năng suất cây trồng. Năng suất đó phải đáp ứng được
nhu cầu của con người. Vì vậy, nếu phân bón còn để lại dư lượng trong
nông sản, nếu trong nông sản có nhiều NO3, nhiều kim loại nặng thì nông
sản không đáp ứng được nhu cầu của con người.
Phân
bón có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nông sản. Đối với các sản phẩm
cây công nghiệp, cây dược liệu, cây hương liệu, cây tinh dầu v.v… bón
phân không hợp lý có thể làm giảm phẩm chất nông sản rất đáng kể.
Phân
bón có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cất giữ, bảo quản và chuyên chở
nông sản. Sản phẩm rau quả chứa nhiều đạm, nhiều nước rất chóng bị hỏng.
Ngoài
việc đáp ứng nhu cầu của con người về vật chất, nông nghiệp còn đáp ứng
nhu cầu của con người được lao động, được tiếp xúc với thiên nhiên,
được khám phá những điều bí ẩn của tự nhiên. Bón phân không hợp lý
thường để lại trong môi trường đất, nước, không khí những dư lượng phân
bón có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, đến tâm trạng con người. Càng
ngày việc thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người càng tăng
lên. Vai trò của nông nghiệp trong việc đảm bảo ổn định cuộc sống, ổn
định xã hội cũng ngày một được nâng cao.
Bón
phân hợp lý không những phát huy đến mức cao hiệu quả của phân bón mà
còn đảm bảo cho môi trường trong lành và thúc đẩy nông nghiệp phát triển
theo hướng tiến bộ.
Mười là:
Cần có cách nhìn toàn diện, đừng để bị hoàn cảnh lung lạc.
Trong
hoạt động sản xuất nông nghiệp, khi tiếp xúc với bất kỳ loại cây trồng
nào cũng không thể tách rời chúng ra khỏi điều kiện sống của nó mà phải
có cách nhìn toàn diện và đặt đúng vị trí của nó trong hệ sinh thái đồng
ruộng. Thông thường người làm nông nghiệp chỉ biết có cây trồng mà quên
mất cây trồng tồn tại và phát triển trong hệ sinh thái.
Kết
quả của sản xuất nông nghiệp thường chịu ảnh hưởng rất lớn của điều
kiện cụ thể từng địa phương cũng như điều kiện khí hậu thời tiết của
từng năm. Người nông dân thường lấy kinh nghiệm sản xuất của năm nay để
áp dụng cho năm sắp tới.
Như vậy, việc tiến hành sản xuất nông nghiệp của nông dân thường chịu ảnh hưởng của cái nhìn hẹp và ngắn.
Muốn
đạt được kết quả tốt, người nông dân cần có cái nhìn toàn diện đồng
thời cần biết cách thoát ra khỏi hoàn cảnh cụ thể của một năm sản xuất,
không để cho hoàn cảnh lung lạc mình và phải có cách nhìn vượt lên trên
không gian và thời gian, cố gắng đi vào bản chất của các hiện tượng.
Cách nhìn này không phải là không dựa trên cơ sở thực tế mà là cách nhìn
xuyên sâu vào bản chất của thực tế, làm cho thực tế hiện rõ lên, không
bị những nhiễu loạn nhất thời làm che mất bản chất.
Bón
phân hợp lý là tìm ra những kết luận từ việc phân tích toàn diện hệ
sinh thái nông nghiệp, phân tích thực chất các hiện tượng đã diễn ra, dự
báo những hiện tượng và trạng thái có thể xuất hiện trong vụ tới để đề
ra giải pháp bón phân mang lại hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội cũng
như môi trường.
Góc kỹ thuậtPhân bón
Các loại phân đạm và cách sử dụng
Phân đạm
Là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây.
Đạm
là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Đạm là
nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit
amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây.
Bón
đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh,
phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp
mạnh, do đó làm tăng năng suất cây.
Phân
đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn
cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các
loại cây ăn lá như rau cải, cải bắp v.v.. Có các loại phân đạm thường
dùng sau đây:
* Phân Urê CO(NH4)2:
Phân
urê có 44 – 48% N nguyên chất. Loại phân này chiếm 59% tổng số các loại
phân đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới. Urê là loại phân có tỷ
lệ N cao nhất. Trên thị trường có bán 2 loại phân urê có chất lượng
giống nhau:
- Loại tinh thể màu trắng, hạt tròn, dễ tan trong nước, có nhược điểm là hút ẩm mạnh.
-
Loại có dạng viên, nhỏ như trứng cá. Loại này có thêm chất chống ẩm nên
dễ bảo quản, dễ vận chuyển nên được dùng nhiều trong sản xuất nông
nghiệp.
Phân
urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên
nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau. Phân
này bón thích hợp trên đất chua phèn.
Phân urê được dùng để bón thúc. Có thể pha loãng theo nồng độ 0.5 – 1.5% để phun lên lá.
Trong chăn nuôi, urê được dùng trực tiếp bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức ăn cho lợn, trâu bò.
Phân
này cần được bảo quản kỹ trong túi pôliêtilen và không được phơi ra
nắng. Bởi vì khi tiếp xúc với không khí và ánh nắng urê rất dễ bị phân
huỷ và bay hơi. Các túi phân urê khi đã mở ra cần được dùng hết ngay
trong thời gian ngắn.
Trong
quá trình sản xuất, urê thường liên kết các phần tử với nhau tạo thành
biurat. Đó là chất độc hại đối với cây trồng. Vì vậy, trong phân urê
không được có quá 3% biurat đối với cây trồng cạn, 5% đối với lúa nước.
* Phân amôn nitrat (NH4NO3):
Phân
amôn nitrat có chứa 33 – 35% N nguyên chất. Ở các nước trên thế giới
loại phân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hàng năm.
Phân
này ở dưới dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng xám. Amôn nitrat dễ
chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và khó sử dụng.
Là loại phân sinh lý chua.
Tuy
vậy, đây là loại phân bón quý vì có chứa cả NH4+ và cả NO3-, phân này
có thể bón cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau.
Amôn nitrat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô…
Phân này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng để tưới cây trong nhà kính và tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả.
* Phân sunphat đạm (NH4)2SO4:
Còn
gọi là phân SA. Sunphat đạm có chứa 20 – 21% N nguyên chất. Trong phân
này còn có 29% lưu huỳnh (S). Trên thế giới loại phân này chiếm 8% tổng
lượng phân hoá học sản xuất hàng năm.
Phân
này có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh. Phân này có mùi
nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua. Cho nên nhiều nơi gọi là
phân muối diêm.
Sunphat đạm là loại phân bón tốt vì có cả N và lưu huỳnh là hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây.
Phân
này dễ tan trong nước, không vón cục. Thường ở trạng thái tơi rời, dễ
bảo quản, dễ sử dụng. Tuy nhiên, nếu để trong môi trường ẩm phân dễ vón
cục, đóng lại thành từng tảng rất khó đem bón cho cây.
Có
thể đem bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác
nhau, miễn là đất không bị phèn, bị chua. Nếu đất chua cần bón thêm vôi,
lân mới dùng được đạm sunphat amôn. Phân này dùng tốt cho cây trồng
trên đất đồi, trên các loại đất bạc màu (thiếu S).
Đạm
sunphat được dùng chuyên để bón cho các loài cây cần nhiều S và ít N
như đậu đỗ, lạc v.v.. và các loại vây vừa cần nhiều S vừa cần nhiều N
như ngô.
Cần
lưu ý đạm sunphat là loại phân có tác dụng nhanh, rất chóng phát huy
tác dụng đối với cây trồng, cho nên thường được dùng để bón thúc và bón
thành nhiều lần để tránh mất đạm.
Khi bón cho cây con cần chú ý là phân này dễ gây cháy lá.
Không nên sử dụng phân đạm sunphat để bón trên đất phèn, vì phân dễ làm chua thêm đất.
* Phân đạm Clorua (NH4Cl):
Phân này có chứa 24 – 25% N nguyên chất.
Đạm clorua có dạng tinh thể mịn, màu trắng hoặc vàng ngà.
Phân này dễ tan trong nước, ít hút ẩm, không bị vón cục, thường tơi rời nên dễ sử dụng.
Là loại phân sinh lý chua. Vì vậy, nên bón kết hợp với lân và các loại phân bón khác.
Đạm clorua không nên dùng để bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng, v.v..
Ở
các vùng khô hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên bón phân đạm
clorua, vì ở những nơi này trong đất có thể tích luỹ nhiều clo, dễ làm
cho cây bị ngộ độc.
* Phân Xianamit canxi:
Phân này có dạng bột không có tinh thể, màu xám tro hoặc màu trắng, đốt không có mùi khai.
Xianamit
canxi có chứa 20 – 21% N nguyên chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than. Vì có
than cho nên phân có màu xám đen. Cũng có loại phân tỷ lệ than thấp
hoặc không có than nên phân có màu trắng.
Cần
chú ý chống ẩm cho phân khi bảo quản, bởi vì nếu phân hút ẩm sẽ bị biến
chất, hạt phân phình to lên làm rách bao bì và làm hỏng dụng cụ đựng.
Phân
này dễ bốc bụi. Khi bám vào da sẽ làm hỏng da, phân bay vào mắt sẽ làm
hỏng giác mạc mắt, vì vậy khi sử dụng phân này phải rất cẩn thận.
Phân này có phản ứng kiềm, bởi vậy có thể khử được chua, dùng rất tốt ở các loại đất chua.
Xianamit
canxi thường được dùng để bón lót. Muốn dùng để bón thúc phải đem ủ
trước khi bón. Bởi vì phân này khi phân giải tạo ra một số chất độc có
thể làm hỏng móng chân trâu bò, hại da chân người nông dân. Thường sau 7
– 10 ngày các chất độc mới hết. Thưởng xianamit canxi được trộn ủ với
phân rác làm cho phân chóng hoai mục. Phân này không được dùng để phun
lên lá cây.
* Phân phôtphat đạm (còn gọi là phốt phát amôn):
Là loại phân vừa có đạm, vừa có lân. Trong phân có tỷ lệ đạm là 16%, tỷ lệ lân là 20%.
Phôtphat đạm có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng.
Phân dễ chảy nước. Vì vậy, người ta thường sản xuất dưới dạng viên và được đựng trong các bao nilông.
Phân rất dễ tan trong nước và phát huy hiệu quả nhanh. Phân được dùng để bón lót, bón thúc đều tốt.
Phân
là loại dễ sử dụng. Thường dùng thích hợp ở đất nhiễm mặn vì không làm
tăng độ mặn, độ chua. Phân có tỷ lệ đạm hơi thấp so với lân, cho nên cần
bón phối hợp với các loại phân đạm khác, nhất là khi bón cho các loại
cây cần nhiều đạm.
* Những điều cần chú ý khi sử dụng phân đạm:
Ở
nước ta có 3 loại phân đạm thường được dùng phổ biến nhất, đó là: phân
urê, phân amôn sunphat và phân amôn phôtphat. Khi được sử dụng hợp lý, 1
kg N nguyên chất có thể thu được 10 – 22 kg thóc hoặc 25 – 35 kg ngô
hạt.
Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các loại phân hoá học cần chú ý đến những điểm sau đây:
-
Phân cần được bảo quản trong các túi nilông. Chỗ để phân cần thoáng
mát, khô ráo, mái kho không bị dột. Không để chung phân đạm cùng với các
loại phân khác.
-
Cần bón đúng đặc tính và nhu cầu của cây trồng. Cây có những đặc tính
rất khác nhau. Nhu cầu của cây đối với N cũng rất khác nhau. Có cây yêu
cầu nhiều N, có cây yêu cầu ít. Nếu bón N nhiều, vượt quá yêu cầu của
cây, N cũng gây ra những tác hại đáng kể. Bón đúng yêu cầu của cây, N
phát huy tác dụng rất tốt.
-
Cần bón đúng dạng phân theo đặc điểm của cây và của đất đai. Đối với
các loại cây trồng cạn như: ngô, mía, bông v.v.. bón đạm nitrat là thích
hợp, nhưng đối với lúa nước nên bón đạm clorua hoặc SA. Đối với các
loại cây họ đậu nên bón đạm sớm, trước khi nốt sần được hình thành trên
rễ cây. Khi trên rễ cây đã có các nốt sần, không nên bón đạm, vì đạm
ngăn trở hoạt động cố định đạm từ không khí của các loài vi khuẩn nốt
sần.
- Cần bón đạm đúng với đặc điểm của đất:
Phân có tính kiềm nên bón cho đất chua.
Phân chua sinh lý nên bón cho đất kiềm.
Đất lầy thụt, nhiều bùn không cần bón phân đạm.
- Cần bón đạm đúng lúc. Tốt nhất là bón vào thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất của cây.
- Cần bón đạm đúng liều lượng và cân đối với lân và kali.
- Bón phân đạm cần lưu ý đến diễn biến của thời tiết. Không bón lúc mưa to, lúc ruộng vườn đầy nước.
-
Không bón đạm tập trung vào một lúc, một chỗ, mà cần chia thành nhiều
lần để bón và bón vãi đều trên mặt đất ở những nơi cần bón. Không bón
đạm quá thừa. Vì khi thừa đạm, cây phát triển mạnh, dễ đổ ngã, ra hoa
chậm, ít hạt, hạt lép nhiều, quả dễ rụng, nhiều sâu bệnh, phẩm chất quả
giảm. Tốn tiền mua phân đạm mà không thu được kết quả gì, gây lãng phí.
- Bón phân đạm cần kết hợp với làm cỏ, xới đất, sục bùn (đối với lúa).
Các loại phân lân và cách sử dụng
Lân
có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng. Lân có trong thành
phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới
của cây.
Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin.
Lân
kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan
rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và
ít đổ ngã.
Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều.
Lân
làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận
lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu
bệnh hại v.v…
Ở một số
loại đất trên nước ta, lân trở thành yếu tố hạn chế đối với năng suất
cây trồng. Đặc biệt ở hầu hết các loại đất trồng lúa ở các tỉnh phía
Nam. Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn
chế hiệu quả của phân đạm.
Hiệu
suất của phân lân khá cao. Trên một số loại đất ở Tây Nguyên bón 1 kg
P2O5 cho hiệu quả thu được 4,3 – 7,5 kg cà phê nhân, 8,5 kg thóc. Ở các
vùng đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của phân lân càng cao hơn, 1 kg
P2O5 mang lại 90 kg thóc, ở mức bón 40 – 60 kg P2O5/ha.
Bón
quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu
một số nguyên tố vi lượng. Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là
Zn.
* Phôtphat nội địa:
Đó
là loại bột mịn, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt. Tỷ lệ lân
nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15% đến 25%. Loại phân
thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%.
Trong
phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu
đối với cây trồng. Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua.
Vì
lân trong phân ở dưới dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở
các chân đất chua. Ở các chân ruộng không chua, hiệu lực của loại phân
này thấp; ở loại đất này, loại phân này dùng bón cho cây phân xanh có
thể phát huy được hiệu lực.
Phân này chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc.
Khi sử dụng có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu.
Phân này dùng để ủ với phân chuồng rất tốt.
Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng.
* Phân apatit:
Là loại bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu.
Tỷ
lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều. Thường người ta chia
thành 3 loại: loại apatit giàu có trên 38% lân; loại phân apatit trung
bình có 17 – 38% lân; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân.
Thường
loại apatit giàu được sử dụng để chế biến thành các loại phân lân khác,
còn loại trung bình và loại nghèo mới được đem nghiền thành bột để bón
cho cây.
Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng cây khó sử dụng.
Apatit có tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất.
Phân này được sử dụng tương tự như phôtphat nội địa.
Sử dụng và bảo quản phân này tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất.
* Supe lân:
Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên.
Trong
supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra, trong phân này có chứa
một lượng lớn thạch cao. Trong phân còn chứa một lượng khá lớn axit, vì
vậy phân có phản ứng chua.
Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng. Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi.
Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được.
Phân
này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua
đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi
bón supe lân.
Supe lân có thể dùng để ủ với phân chuồng.
Nếu
supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng. Có thể
dùng phôtphat nội địa hoặc apatit. Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20%
apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%. Nếu dùng tro bếp để
trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, nếu dùng vôi thì tỷ lệ
là 5 – 10%.
Phân supe lân
thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân,
người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng
viên để bón cho cây.
Phân này có thể dùng để hồ phân rễ mạ.
Supe
lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và
vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ
đong đựng bằng sắt.
* Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển):
Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh.
Tỷ
lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra trong
phân còn có canxi 30% một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%,
có khi có cả kali.
Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất.
Phân
này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ
dàng. Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt.
Tecmô
phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng
kiềm. Phân sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu
vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali.
Phân này thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên.
Không sử dụng tecmô phôtphat để hồ phần rễ mạ.
Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng.
* Phân lân kết tủa:
Phân
có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột. Phân có tỷ lệ lân
nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong thành phần của
phân có một ít canxi.
Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat.
Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








