Tin mới
Đang tải...
Một số kinh nghiệp giúp nông dân phân biệt và chọn mua phân bón đúng chất lượng

Một số kinh nghiệp giúp nông dân phân biệt và chọn mua phân bón đúng chất lượng

Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón giả, phân bón kém chất lượng, nhất là phân Kali và các loại phân hỗn hợp NPK. Hậu quả là người nông dân phải chịu “tiền mất- tật mang” mà chẳng biết kêu ai. Để giúp cho nông dân tự bảo vệ mình, chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm được tổng hợp từ các chuyên gia trong lĩnh vực phân bón.


        Phân hóa học là loại phân bón chủ lực, cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng: Đạm (N), Lân (P2O5), Kali (K2O) cho cây trồng, là những yếu tố quyết định tới năng suất và chất lượng nông phẩm. Phân hóa học đang lưu thông trên thị trường gồm hai nhóm chính là:
I. Phân hoá học đơn chất
là nhóm phân bón chứa một loại dưỡng chất đa lượng chủ yếu, gồm có ba loại chính là:
1. Phân chứa đạm: có URÊ chứa 46% nitơ (N), Sun-phat A-môn (S.A) chứa 20-21% N các loại phân này chủ yếu là nhập khẩu. Lượng sản xuất trong nước chỉ vào khoảng 900.000 tấn Urê/năm)
2. Phân chứa lân: gồm Supe lân và Lân nung chảy, chứa từ 15,5%-16% Ô-xít Phốt-pho (P2O5hữu hiệu), chủ yếu được sản xuất trong nước từ nguyên liệu là quặng A-pa-tit do 4 nhà máy sản xuất là Su-pe phốt phát và hoá chất Lâm Thao, Long Thành, Phân lân nung chảy Văn Điển và Phân lân nung chảy Ninh Bình.
3. Phân chứa Kali: gồm phân Clo-rua Ka-li (MOP, KCl) chứa 60% Ô-xít Ka-li (K2O) và Sun-phat Ka-li (SOP, K2SO4) chứa 50% Ô-xít Ka-li (K2O).
II. Phân hỗn hợp
là nhóm phân bón có chứa từ 2 yếu tố dinh dưỡng đa lượng trở lên, ngoài ra còn có thể có chứa một số chất dinh dưỡng, nguyên tố trung, vi lượng khác gồm các loại sau:
1. Phân chứa Đạm và Lân, có các loại như Mô-nô A-mô-ni-um Phốt-phát (MAP) chứa từ 10-11% Ni-tơ và 49-50% Ô-xít Phốt-pho (P2Ohữu hiệu) và Di A-mô-ni-um Phốt-phát (DAP) chứa 16-18% Ni-tơ và 44-46% Ô-xít Phốt-pho (P2Ohữu hiệu), chủ yếu phải nhập khẩu. Hiện nay, nước ta mới có nhà máy DAP Đình Vũ với công suất khoảng 300.000 tấn/năm vừa mới đi vào hoạt động và đang trong quá trình sản xuất thử.
2. Phân chứa Đạm và Ka-li có tên gọi chung là phân hỗn hợp KNS, NKS, NK, chủ yếu sản xuất trong nước từ nguyên liệu là 2 loại phân đơn S.A và MOP có trộn thêm một số phụ gia khác như phẩm màu, bột sét đỏ nhưng được chia ra nhiều loại khác nhau do tỷ lệ thành phần 2 dưỡng chất khác nhau và tên gọi thương mại khác nhau tuỳ theo từng cơ sở sản xuất.
3. Phân chứa Đạm, Lân và Ka-li, có tên gọi chung là phân hỗn hợp NPK, gồm hàng ngàn loại khác nhau do tỷ lệ thành phần các dưỡng chất khác nhau và tên gọi thương mại khác nhau của cơ sở sản xuất
III. Cách phân biệt, nhận dạng phân bón thật-giả
Trong các loại phân bón nói trên, thì các loại phân đơn như đạm U-rê, S.A, Clo-rua A-môn, Supe Lân và Lân nung chảy là khó làm giả hơn cả và tương đối dễ nhận biết do công nghệ sản xuất phức tạp, chi phí đầu tư lớn hoặc do giá trị thấp, việc làm giả không mang lại lợi nhuận cao. Riêng đối với phân chứa Ka-li và các loại phân hỗn hợp thì rất dễ làm giả, làm nhái, làm kém chất lượng do công nghệ sản xuất đơn giản, chi phí đầu tư thấp, việc làm nhái, làm giả mang lại lợi nhuận lớn do chênh lệch giá cao. Việc xác định hàng thật, hàng giả, hàng kém chất lượng chỉ xác định được chính xác bằng máy móc phân tích mà khó phân biệt được bằng cảm quan.
Tuy nhiên, không phải là hoàn toàn không thể phân biệt phân thật phân giả bằng cảm quan. Qua kinh nghiệm thực tế nhiều năm, xin chia sẻ với bà con nông dân một số kinh nghiệm giúp phân biệt, lưạ chọn được phân Kali thật như sau:
1. Phân Clo-rua Ka-li (MOP, KCl) chứa 60% K2O
-  Màu sắc đặc trưng là đỏ hồng, hồng nhạt, đỏ tím và màu trắng là loại phân chứa Ka-li phổ biến nhất, và cũng là loại phân bị lợi dụng làm giả, làm nhái nhiều nhất, gây tổn thất nặng nề nhất cho người nông dân do chênh lệch giá giữa hàng thật-hàng giả rất lớn, lại dễ làm giả.
Do thiếu kinh nghiệm nên phần lớn nông dân tin rằng phân Clo-rua Ka-li có màu đỏ và phân có màu đỏ là phân Kali, tuy thực tế không phải cứ loại phân bón nào có màu đỏ, màu hồng cũng là phân Ka-li. Nông dân dễ bị mua phải phân Ka-li giả do trên thị trường có các loại phân NKS, KNS, NPK… được một số nhà sản xuất trong nước cố tình làm rất giống phân Clo-rua Ka-li về mặt hình thức, nhất là màu đỏ đặc trưng của Kali, nhưng thực chất chỉ có từ 10-30 % là Ô-xit Ka-li, còn lại là phân SA, muối ăn, phẩm màu, bột sét đỏ, nhằm mục đích bán được hàng thu lợi nhuận, các nhà bán lẻ lợi dụng sự cả tin và non kém kinh nghiệm của người nông dân để trục lợi.
Phân Kali thật do các công ty nhập trực tiếp từ nhà sản xuất ở Nga, Bê-la-rút, Ca-na-đa, I-xra-en, Giooc-đa-ni… với số lượng lớn, chất lượng đảm bảo, đã qua kiểm tra chất lượng nhà nước, được đóng trong bao 50 kg có tên gọi thương mại là MOP, KA-LI, CLO-RUA KA-LI có hàm lượng O-xit kali tối thiểu là 60%. Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, do đó khi mua hàng, người nông dân phải cảnh giác, không thể để mặc cho người bán hàng muốn đưa loại phân nào cũng được, mà, trước hết phải yêu cầu đại lý:
-          Bán cho loại phân Ka-li thật, có hàm lượng K2O ≥ 60%,
- sau đó phải xem bao bì có đúng là hàng nhập khẩu hay không? Hàm lượng Ô-xít Ka-li (K2O) ghi trên bao bì có là 60% tối thiểu hay không? Các loại phân được đại lý bán hàng giới thiệu là phân Ka-li nhưng do các cơ sở trong nước sản xuất, trên bao bì không ghi hàm lượng K2O chiếm 60% thì đều là hàng giả, hàng nhái.  Nhiều người bán hàng muốn kiếm lợi cao đã tìm cách tái sử dụng bao bì thật của phân Clo-rua Ka-li nhưng ruột là các loại phân KNS, NKS, KN…. để đánh lừa nông dân.
- Khi mua tốt nhất nên lấy hoá đơn hoặc giấy biên nhận để có bằng chứng về sau này.
Vậy làm thế nào có thể phân biệt được phân Clo-rua Ka-li thật-giả bằng cảm quan? Xin mách bà con nông dân một mẹo nhỏ như sau:
Hãy yêu cầu chủ hàng cho mượn hoặc mang theo một chiếc cốc thủy tinh nhỏ, trắng và trong suốt cùng một ít nước sạch trong cốc. Thả một nhúm chừng 3-5 gam sản phẩm vào trong cốc nước có dung tích 50-100 ml để làm thực nghiệm và quan sát kết quả như sau (có hình ảnh minh hoạ theo từng bước kiểm tra):

TT
Cách thử
Phân Clo-rua ka-li (MOP) thật
Phân giả

Cho 3-5 gam phân khô ráo vào cốc nước trong
- Cốc nước chưa có màu hồng đỏ
- Một phần chìm xuống nước, một phần vẫn nổi trên mặt cốc nước
- Sau khi khoắng mạnh, Dung dịch chuyển sang màu hồng nhạt, không vẩn đục, có váng đỏ bám quanh thành cốc. Phân tan hết
- Cốc nước lập tức có màu hồng đỏ
- Toàn bộ phân chìm xuống và tan rất nhanh,
-Sau khi khoắng mạnh, dung dịch có màu hồng đỏ, vẩn đục, không có váng đỏ bám quanh thành cốc. Có thể để lại cặn không tan hết

2. Phân Sun- phát Ka-li (SOP, K2SO4) chứa 50% K2O
- Màu trắng, ở dạng hạt nhỏ hoặc bột, rất tốt cho các loại cây có múi, khoai tây, thuốc lá, cũng là loại phân phải nhập khẩu, số lượng dùng không phổ biến , dễ bị làm giả khi trộn lẫn với bột đá vôi hoặc bột vôi sống, bột đất sét trắng.  Cách phân biệt thật- giả chỉ có thể bằng cách tiến hành thực nghiệm hòa tan vào trong cốc nước trong và quan sát các biểu hiện như sau:

TT
Cách thử
Phân Sun-phát Ka-li (SOP) thật
Phân giả
1
Cho 7-10 gam phân vào cốc nước trong
Tan hết trong nước, dung dịch có màu trong suốt
Có thể không tan hết, để lại cặn lắng(bột đá) hoặc dung dịch vẩn đục do huyền phù của Vôi  hoặc sét trắng

 3. Phân U-rê:
Có hai loại phân U-rê chính là loại hạt trong (Prilled UREA) và Hạt đục (Granular UREA), cả hai loại đều có công thức hóa học và hàm lượng ni-tơ như nhau, tối thiểu là 46%.
3.1. Phân U-rê hạt trong: là loại phổ biến nhất, dùng bón trực tiếp cho cây trồng, phân rất dễ tan, có màu trắng trong, dạng hạt tròn. Đây là loại phân rất khó làm giả, tuy nhiên đã xuất hiện loại kém chất lượng bằng cách trộn phân SA vào phân U-rê theo một tỷ lệ nhất định do phân SA rẻ hơn phân U-rê.
Đặc điểm để nhận biết là phân U-rê thật chỉ có dạng hạt tròn, còn nếu có lẫn phân SA thì các hạt phân SA có dạng tinh thể, nhiều góc cạnh. Hiện nay nước ta chỉ có 2 nhà máy sản xuất được U-rê hạt trong là Đạm Hà Bắc và Đạm Phú Mỹ, còn lại là U-rê nhập khẩu. Do đó, phân U-rê của các cơ sở sản xuất khác ở trong nước đều là hàng giả. Vì vậy, bà con nông dân nên chọn mua 2 loại U-rê Hà Bắc và Phú Mỹ, hoặc U-rê trên bao bì có ghi rõ ràng nguồn gốc nhập khẩu.
3.2. Phân U-rê hạt đục: đây là loại phân rất tốt, do chậm tan và ít bị bay hơi hơn so với loại U-rê hạt trong nên hiệu suất sử dụng cao hơn, có thể bón trực tiếp cho cây trồng hoặc dùng làm nguyên liệu sản xuất các loại phân hỗn hợp khác như NPK. Phân có dạng hạt to, đường kính hạt 2- 4mm, cứng, màu trắng đục như sữa Đây là loại phân phải nhập khẩu 100%, rất khó làm giả hoặc việc làm giả không đem lại lợi ích đáng kể. Bà con nông dân có thể an tâm khi mua và sử dụng loại phân này.
4.      Các loại phân đơn khác
4.1. Phân Sun-phát A-môn (SA, (NH4)2SO4) có màu trắng trong hoặc trắng ngà, dạng tinh thể lấp lánh như kim cương hoặc như đường kính trắng, nhưng cỡ hạt lớn hơn, hoặc dạng hạt nhỏ, mịn. Dễ tan và tan hết trong nước, khi tan hấp thu nhiệt rất mạnh. Dùng để bón trực tiếp cho cây trồng, nhất là cây công nghiệp dài ngày, hoặc dùng làm nguyên liệu sản xuất phân hỗn hợp NPK. Đây là loại phân trong nước chưa sản xuất được, phải nhập khẩu 100%.
4.2. Phân Supe Lân: Nguồn trong nước do Cty Supe phốt phát và hóa chất Lâm thao và  Nhà máy phân lân Long Thành- cty Phân bón miền Nam sản xuất, có dạng bột mịn, hàm lượng lân (P2O5hữu hiệu) khoảng 15,5%-16%. Nguồn nhập khẩu dưới dạng bột mịn và hạt tròn, hàm lượng 16% lân hữu hiệu có màu xám và xám xanh.
4.3. Lân nung chảy: nguồn trong nước do Cty Phân lân nung chảy Văn Điển và Cty CP Phân lân Ninh Bình sản xuất, có dạng  bột mịn và dạng mảnh. Nguồn nhập khẩu cũng có hai dạng như trên. Màu sắc đen, xanh đen hoặc xám sẫm.
Bốn nhóm phân nêu trên nói chung chưa thấy hàng giả, hàng nhái do việc làm giả khó khăn, công nghệ sản xuất phức tạp, việc làm giả không mang lại lợi nhuận lớn cho kẻ làm giả. Vì vậy, bà con nông dân có thể yên tâm mua và sử dụng các loại phân thuộc bốn nhóm này.
5. Phân Mô-nô A-mô-ni-um Phốt-phát (MAP) có dạng hạt tròn, đường kính 1-4mm, có nhiều màu khác nhau như: nâu, xám, đen, xanh, vàng….. Chất lượng không phụ thuộc vào màu sắc. Loại phân này chủ yếu dùng làm nguyên liệu sản xuất các loại phân NPK. Đối tượng sử dụng là các cơ sở sản xuất nên có thể kiểm tra được chất lượng hàng hóa khi mua hàng, loại phân này phải nhập khẩu 100%.
6. Phân Di A-mô-ni-um Phốt phát (DAP) có dạng hạt tròn, đường kính từ 1-4mm, có nhiều màu khác nhau, như: xanh ngọc, xanh nõn chuối, vàng, trắng ngà, xám, nâu, đen. Chất lượng hàng cũng không phụ thuộc vào màu sắc mà phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng ghi trên bao bì sản phẩm. Nhiều khi các nhà sản xuất nhuộm màu cho phù hợp với thị hiếu của người nông dân, nhưng nhiều khi chênh lệch giá bán giữa các màu khác nhau có khi lên tới hơn 10% giá bán, rất đáng để bà con nông dân phải suy nghĩ khi quyết định mua hàng.
Như trên đã nói, phân DAP hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhập khẩu, do sản xuất trong nước chưa ổn định. DAP có thể dùng để bón trực tiếp cho cây trồng hoặc dùng làm nguyên liệu sản xuất ra các loại phân NPK. Cho tới nay chưa thấy ghi nhận vụ việc nào liên quan tới việc làm giả phân DAP, nhưng có hiện tượng lợi dụng tâm lý, thị hiếu về màu sắc hoặc nguồn gốc hàng hóa của bà con nông dân để làm hàng nhái về bao bì, màu sắc, lập lờ về nguồn gốc… cho dễ tiêu thụ hoặc trục lợi. Bà con nông dân khi mua phân DAP phải kiểm tra bao bì có ghi rõ nguồn gốc nhập khẩu từ nước nào, doanh nghiệp nào nhập khẩu, hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm là bao nhiêu, vì tổng hàm lượng Ni-tơ và Ô-xít Phốt pho có thể nằm trong khoảng từ 60-64%, không nên chỉ vì thị hiếu màu sắc của sản phẩm mà phải trả một khoản chênh lệch giá quá lớn.
7. Đối với các loại phân chứa đạm và Ka-li như KNS, NKS, NK hay KN với hai thành phần dinh dưỡng chính là Đạm và Ka-li. Đây là loại phân chủ yếu do một số cơ sở trong nước sản xuất bằng cách phối trộn hai loại phân SA và Clo-rua Ka-li (MOP) và một số phụ gia khác như phẩm màu, bột sét đỏ…v.v.. với nhau theo một tỷ lệ nhất định mà họ đã công bố và đăng ký. Thực ra phẩm màu, bột đất sét đỏ, muối ăn hay thứ phụ gia gì khác thì đều chẳng có tác dụng gì đối với cây trồng. Mục đích các cơ sở sản xuất trộn phẩm màu, sét đỏ vào là để tạo ra màu đỏ của sản phẩm sao cho giống với phân Clo-rua Ka-li nhằm làm cho người nông dân bị nhầm lẫn khi mua hàng. Giá thành của loại phân này thường chỉ bằng khoảng 50% so với phân Clo-rua Ka-li (MOP) thật, và hàm lượng Ka-li cũng chỉ bằng 1/5 hay 1/6 so với phân Clo-rua Ka-li thật mà thôi. Loại phân này chỉ nên dùng để bón thúc đợt 1. Bà con nông dân cần hết sức cảnh giác, tránh mua phải và tránh dùng loại phân này với mục đích bón Ka-li ở giai đoạn thúc đòng, đậu quả vào hạt để tránh những thiệt hại to lớn về tiền bạc và mùa màng. Cách phân biệt loại phân này đã trình bày ở phần hướng dẫn nhận biết phân Clo-rua Ka-li thật.
8. Đối với các loại phân hỗn hợp NPK: gồm rất nhiều loại do tỷ lệ thành phần các loại dinh dưỡng khác nhau, nhưng theo phương pháp sản xuất thì được chia ra làm 2 nhóm:
8.1. Nhóm phân khoáng trộn: được sản xuất bằng cách phối trộn các loại phân nguyên liệu chứa Đạm, Lân và Ka-li với nhau theo một tỷ lệ nhất định theo tiêu chuẩn đã công bố, tạo thành một hỗn hợp phân bón với thành phần là các hạt chứa riêng rẽ từng loại dinh dưỡng. Nhóm này có công nghệ sản xuất đơn giản, nhưng sản phẩm làm ra khó làm giả mà chỉ có thể làm kém chất lượng do người tiêu dùng có thể nhận biết bằng cảm quan từng thành phần phân bón có trong hỗn hợp (hạt đạm, hạt Ka-li, hạt Lân….)
8.2. Nhóm phân phức hợp: được sản xuất bằng cách nghiền nhỏ, trộn đều các loại nguyên liệu thành phần, sau đó tạo thành các hạt phân tổng hợp mà mỗi hạt đều chứa đủ các thành phần dinh dưỡng theo một tỷ lệ nhất định đã được công bố. Nhóm này tuy có công nghệ phức tạp, đòi hỏi đầu tư lớn, hiện đại nhưng lại dễ bị các cơ sở sản xuất nhỏ khác lợi dụng làm giả, làm nhái bằng cách ve viên các nguyên liệu rẻ tiền như đất mùn, than bùn, bột sét, bột màu… tạo thành sản phẩm có hình dáng và màu sắc giống như hàng thật.
Nói chung, đối với các loại phân NPK rất khó phân biệt được thật - giả và xác định được mức chất lượng bằng cảm quan thông thường mà phải dựa trên kết quả phân tích của các trung tâm phân tích. Kinh nghiệm chung để mua được đúng chủng loại và chất lượng các loại phân NPK là chọn mua sản phẩm của các công ty lớn, có uy tín trên thị trường, mua tại các đại lý bán hàng chính thức của các công ty đó.
Để giúp cho bà con nông dân có những thông tin chính xác, chúng tôi xin giới thiệu một số công ty là những nhà sản xuất, nhập khẩu và  kinh doanh lớn nhất trên thị trường phân bón nước ta theo bảng xếp hạng trong TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2008 để bà con nông dân có được những địa chỉ tin cậy từ đó lựa chọn mua được các sản phẩm tốt, giá cả hợp lý phục vụ cho nhu cầu sản xuất của mình theo bảng kê dưới đây:

TT
Tên công ty
Mặt hàng sản xuất- kinh doanh chính
01
Tổng cty Phân bón và Hóa chất Dầu khí- Cty Cổ phần (PVFCCo)
Phân Đạm U-rê Phú Mỹ
02
Công ty CP XNK Hà Anh
Đạm U-rê nhập khẩu, U-rê Hà Bắc, U-rê Phú Mỹ, phân Ka-li (MOP,SOP), phân SA, DAP nhập khẩu, NPK Hà Anh
03
Cty Cổ phần VINACAM
Phân U-rê nhập khẩu, MOP, DAP, SA
04
Cty Phân bón Bình Điền
Phân NPK các loại
05
Phân bón Miền Nam
Phân Supe lân Long thành, NPK các loại
06
Cty CP vật tư Nông sản
Phân U-rê nhập khẩu, MOP, DAP, SA
07
Cty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao
Phân Lân Supe Lâm Thao, Phân NPK Lâm Thao các loại
08
Cty Phân bón Việt Nhật
Phân NPK Việt Nhật
09
Cty CP Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ
Phân U-rê nhập khẩu, MOP, SA, DAP
10
Cty TNHH BACONCO
Phân NPK
11
Cty TNHH MTV Phân Đạm và Hóa chất Hà Bắc
Phân Đạm U-rê Hà Bắc
12
Cty CP VTNN Nghệ An
Phân U-rê nhập khẩu, DAP,SA, NPK

Với những thông tin rất bổ ích nêu trên, hy vọng rằng bà con nông dân có thêm kinh nghiệm và có thêm nhiều địa chỉ tin cậy để có thể mua được phân bón thật, chất lượng tốt góp phần tạo ra những vụ mùa bội thu.

                                                                       Nguồn: Cục Trồng Trọt
Thanh Hóa hỗ trợ sản xuất mía nguyên liệu

Thanh Hóa hỗ trợ sản xuất mía nguyên liệu

Mía đường là một trong những cây trồng chủ lực ở các huyện trung du, miền núi tỉnh Thanh Hóa. Mặc dù đã có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ từ tỉnh, nhưng chưa có chiều sâu nên các Cty mía đường vẫn SX còn manh mún, nhỏ lẻ.

Nhiều địa phương, doanh nghiệp tùy tiện mở rộng diện tích mía không theo quy hoạch làm ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể phát triển toàn ngành.

Đặc biệt, việc thu mua mía cho nông dân thường hợp đồng qua trung gian nên tính công bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người trồng không được đảm bảo, thậm chí một số chủ hợp đồng còn ăn chặn tiền bán mía của dân khiến cho nguồn vốn tái đầu tư của bà con gặp nhiều khó khăn.


Ông Trịnh Huy Khuê, xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn làm giàu nhờ cây mía

Tại hội nghị tổng kết SX mía đường vụ 2012-2013, triển khai nhiệm vụ thu mua, chế biến niên vụ 2013-2014 và định hướng SX vụ mía 2014-2015 vừa tổ chức, hầu hết đại biểu ở các địa phương có diện tích trồng mía lớn như Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Nông Cống, Thạch Thành… đều khẳng định, cây mía đã góp phần đắc lực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, giúp người dân vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, để cây trồng chủ lực này tiếp tục phát triển về cả diện tích, năng suất, chất lượng, hiệu quả, một số huyện đề nghị các Cty SX mía đường trên địa bàn cần lên kế hoạch, cân đối giá thu mua và thông báo trước cho người dân biết để họ mạnh dạn đầu tư; đồng thời đến vụ thu hoạch phải thu mua công khai, nhanh gọn, tránh để kéo dài thời vụ khiến lượng đường trong mía giảm, thiệt thòi cho bà con.

Đáp ứng nguyện vọng của người trồng mía, đại diện Cty CP Mía đường Lam Sơn; Cty TNHH Đường mía Việt Nam - Đài Loan và Cty CP Mía đường Nông Cống cho hay, đã có chính sách hỗ trợ để nông dân đầu tư SX theo chiều sâu như: Hỗ trợ mở rộng vùng SX tập trung quy mô từ 5 ha trở lên là 3 triệu đồng/ha; khai hoang 2 triệu đồng/ha; hỗ trợ kinh phí cho Ban chỉ đạo các huyện, HTX, các Cty và nông, lâm trường 500 - 5.000 đồng/tấn mía sạch;

Khen thưởng 2 chỉ vàng cho những hộ đạt năng suất lớn hơn hoặc bằng 100 tấn/ha, chữ lượng 100 CCS trở lên và sản lượng mía bán trên 100 tấn. Ngoài ra còn có chính sách hỗ trợ phân bón; lãi suất tiền vay mua máy cày công suất lớn trong 5 năm; đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi…

Được biết, diện tích vụ mía nguyên liệu năm 2013-2014 toàn tỉnh đạt 34.778 ha. Trong đó, vùng Lam Sơn hơn 17.300 ha; vùng Việt - Đài gần 11.000 ha và vùng Nông Cống 6.450 ha. Năng suất bình quân ước 61,7 tấn/ha; sản lượng đạt hơn 2, 1 triệu tấn, tăng hơn 26.000 tấn so với cùng kỳ.

Vụ mía 2014-2015, Thanh Hóa phấn đấu đưa diện tích mía đứng đạt 30.533 ha; năng suất bình quân trên 71,8 tấn trở lên và sản lượng mía nguyên liệu đạt từ 2,2 triệu tấn.

Để thực hiện đạt mục tiêu trên, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức Quyền yêu cầu các địa phương rà soát, thực hiện trồng mía theo quy hoạch; chuyển diện tích mía trồng trên đất dốc 150 trở lên sang trồng cây lâm nghiệp, cao su, sắn; tăng cường đầu tư, áp dụng đồng bộ các biện pháp, mở rộng diện tích mía thâm canh nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng.

Nguồn: nongnghiep.vn
Biển Đông lại sắp đón bão mới

Biển Đông lại sắp đón bão mới

Ngay sau khi siêu bão Haiyan vừa tan, chiều qua (11/11), Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương và một số đài dự báo khí tượng khu vực Châu Á đã tiếp tục phát đi bản tin về sự xuất hiện của một áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) mới hình thành ở vùng biển ngoài khơi phía đông nam Philippin, hướng về Biển Đông nước ta.


Vị trí và hướng di chuyển của ATNĐ (tới chiều qua 11/11)

Hồi 13 giờ ngày 11/11, vị trí tâm ATNĐ ở vào khoảng 4,8 độ vĩ bắc; 132,5 độ kinh kông, cách đảo Min - đa - nao (Philippin) khoảng 760km về phía đông đông nam. Dự báo trong 24 giờ tới, ATNĐ di chuyển theo hướng giữa tây tây bắc và tây bắc, mỗi giờ đi được khoảng 25 - 30km và có khả năng mạnh lên thành bão. Đến 13 giờ ngày 12/11, vị trí tâm bão ở vào khoảng 8,3 độ vĩ bắc; 126,3 độ kinh đông, trên khu vực phía đông đảo Min - đa - nao.

Trước đó, ngay tại thời điểm diễn ra các cuộc họp BCĐ PCLB Trung ương triển khai phòng chống cơn bão số 13, ông Bùi Minh Tăng – GĐ Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương đã nhiều lần cho biết, ATNĐ này nhiều khả năng sẽ đi vào Biển Đông nước ta từ khoảng ngày 13-14/11, và trở thành cơn bão số 15 trên Biển Đông nước ta, nâng tổng số cơn bão và ATNĐ hình thành trên Biển Đông lập kỷ lục (15 bão, 3 ATNĐ) sau gần 50 năm qua kể từ năm 1964 (NNVN ngày 6/11 đã đưa tin).

Tuy nhiên tại thời điểm đó, ông Tăng cũng cho biết còn quá sớm để khẳng định bão số 15 này có ảnh hưởng tới nước ta hay không, ảnh hưởng vùng nào, thời điểm nào và sức mạnh ra sao

Nguồn: nongnghiep.vn
10 năm thiên tai tồi tệ

10 năm thiên tai tồi tệ

Siêu bão Haiyan được cho là cơn bão khủng khiếp nhất mà nhân loại đang phải hứng chịu. Hàng vạn người dân Philippines đã chết và mất tích. Song, đó chỉ là 1 trong những thiên tai tồi tệ nhất trong 10 năm vừa qua. Xin nêu lại những thảm họa đáng quên đó để nhắc nhớ chúng ta việc đối phó, phòng chống chúng hàng ngày, hàng giờ.

Cơn cuồng nộ gấp hơn 2 vạn quả bom nguyên tử

Ngày Chủ nhật, 26/12/2004 sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức của những người dân Ấn Độ dương, đặc biệt là những cư dân vùng Tây Bắc Indonesia. Vụ va chạm giữa 2 mảng lục địa Ấn Độ và Myanmar đã gây ra một trận động đất kinh hoàng ngoài khơi Ấn Độ Dương với sức mạnh lên đến 9,2 độ richter.

Tiếp theo địa chấn là những cơn sóng thần khổng lồ liên tục đập vào bờ biển các nước trong khu vực Ấn Độ dương. Những con sóng cao đến 30 m đã cuốn phăng tất cả trên đường đi, làm 230.000 người thiệt mạng và được xếp hạng vào những thảm họa thiên nhiên khủng khiếp nhất lịch sử. Trong vụ thiên tai này quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia sau đó là Sri Lanka, Ấn Độ và Thái Lan.

Vụ động đất, nguyên nhân của sóng thần được xếp hạng thứ 3 trong số những cơn địa chấn đã từng xảy ra trên hành tinh kể từ khi con người có thể đo được sức mạnh của chúng. Nó đã khiến cả hành tinh xê dịch đi 1 cm và dù xảy ra ở Ấn Độ dương nhưng vẫn đủ sức ảnh hưởng để kích hoạt một cơn địa chấn khác ở Alaska ở phương Bắc xa xôi.


Hình ảnh sóng thần ập vào bờ biển Ao Nang, Thái Lan ngày 26/12/2004

Đây được đánh giá là đợt sóng thần gây thảm họa chết người và tàn phá khủng khiếp nhất trong lịch sử. Khoảng 280.000 người thiệt mạng và hàng triệu người mất nhà cửa. Đảo Sumatra là tâm chấn của thảm họa, có số người thiệt mạng cao nhất Indonesia, đồng thời phải chịu thảm họa kép động đất và sóng thần.

Theo ước tính, sức tàn phá của sóng thần vào Sumatra ngày hôm đó thực sự gấp đôi nguồn năng lượng bùng nổ trong Chiến tranh thế giới II, bao gồm cả hai quả bom nguyên tử. Tính riêng cường độ và nguồn năng lượng của riêng trận động đất gây ra, ước tính đã phải xấp xỉ khoảng 23.000 quả bom nguyên tử ở Hiroshima (Nhật Bản).

Ký ức kinh hoàng

Mặc dù xảy ra sau động đất vài tiếng nhưng gần như toàn bộ các nạn nhân của những cơn sóng thần năm 2004 đều bị bất ngờ. Thời điểm đó, chưa có bất kỳ hệ thống cảnh báo sóng thần nào trên khu vực Ấn Độ dương. Việc phát hiện sớm sóng thần là không thể nếu như không có hệ thống cảm biến đặt dưới mặt nước và thiếu sót này đã gây ra một thảm họa thiên nhiên kinh hoàng như vậy.

Vào thời điểm đó, John Thompson một người Mỹ đang có mặt tại bãi biển Khoa Lak, Thái Lan, anh chứng kiến toàn bộ những gì xảy ra ở bãi biển và may mắn là một trong số ít ỏi những người sống sót để kể lại những gì đã xảy ra.

Sáng 26/12, John đang ngồi ăn sáng bên ngoài sân khách sạn ở Khoa Lak, phía bờ biển đang có 2 cậu bé người Anh chơi đùa với những con sóng nhỏ. Khi đó, chẳng có bất kỳ một dấu hiệu nào của sóng thần, biển vẫn rất hiền hòa.

Nhưng chỉ sau đó vài phút, những cơn sóng khổng lồ bắt đầu xuất hiện, lúc đó vẫn chưa ai nhận ra điều gì đang xảy ra, tất cả chỉ biết chạy, chạy thật nhanh khỏi bờ biển. Lúc này John nhận ra rằng không thể chạy thoát khỏi những con sóng cao đến hàng chục mét đang ập vào. Anh đã lao vào một khách sạn vững chãi bên đường và gọi mọi người vào nhưng rất ít người làm theo, đa số vẫn cố chạy trên đường và đó là quyết định sai lầm của họ.

John kể lại: “Những gì còn lại trong đầu tôi là những tiếng gào thét vô vọng của những người đang bị nước cuốn đi. Nước đục ngầu và cuốn rất xiết khắp bờ biển và điều trớ trêu là thảm họa này lại xảy ra vào một ngày bầu trời trong xanh”.

Khi những đợt sóng đầu tiên qua đi, John và một vài người có mặt trong khách sạn trèo lên tầng cao nhất và đợi đến khi nước rút. Sau vài giờ chờ đợi, tất cả chỉ còn lại một sự yên lặng đáng sợ, nước đã rút và mọi người bắt đầu xuống đường, lội qua những đống bùn lầy để đi tìm những người còn sống sót, họ dùng ga giường của khách sạn để băng bó và cố định cơ thể những người bị thương nặng.

Trở về sau 7 năm bị cuốn ra biển

Câu chuyện tưởng như là cổ tích đã xảy ra với một cô gái Indonesia, cô đã trở về đoàn tụ với gia đình ở một làng quê nghèo ven biển sau 7 năm lưu lạc vì sóng thần cuốn ra biển và sống như một hành khất trên đường phố.

Mary Yuranda, cô gái bị sóng thần cuốn đi năm 2004, khi mới 7 tuổi đã trở về nhà sau khi nhận được sự giúp đỡ của một người phụ nữ tốt bụng. Trong khi đó, cha mẹ của em vẫn tin rằng con gái của mình đã qua đời cùng với 168.000 người khác ở Aceh, khu vực ở mũi phía Tây của đảo Sumatra.


Mary Yuranda (trên giường) trở về nhà sau 7 năm mất tích bởi sóng thần

Từ ngôi làng của mình tại Ujong Baroh, mẹ của Mary, bà Yusnidar đã nói với AFP: “Tôi không thể mô tả được tôi đã cảm ơn trời đất đến mức nào”. Khi mới trở về nhà, cha mẹ của Mary đã có chút nghi ngờ nhưng rồi tất cả đã được gạt bỏ khi vết sẹo trên bụng của em chứng minh tất cả. “Vết sẹo trên bụng và nốt ruồi trên mặt đã chứng minh đó là con gái tôi”, bà Yusnidar xúc động kể lại.

Khi sóng thần ập đến năm 2004, Yusnidar đã cố gắng đưa 3 đứa con của mình đến điểm an toàn nhưng trong cảnh hỗn loạn đó, bà đã để lạc mất Mary và cô con gái lớn.

Cha của Mary, ông Tarmius nói con gái ông đã bị một phụ nữ đem đi sau thảm họa. Bản thân người đàn bà này cũng có con trong những cơn sóng thần năm 2004. Sau đó, bà bắt Mary đi lang thang trong những thành phố nghèo của Indonesia để làm nghề ăn xin cùng mình.

Nhưng sau 7 năm, người đàn bà này cũng đồng ý trả tự do cho Mary, đưa em lên taxi để trở về thành phố Meulaboh, thuộc tỉnh Aceh. Mary đã đến một quán cafe, nơi người ta xem em như người ăn xin để hỏi về quê nhà của mình.

May mắn thay, Mary vẫn còn nhớ được tên làng của mình và tên của ông nội, một lãnh đạo khá nổi tiếng trong vùng. Một người đàn ông trong quán cafe, có quen biết ông của Mary đã đưa em về nhà sau đó gọi cho cha mẹ đến nhận con.

Nguồn: nongnghiep.vn
Xen ghép lúa chịu mặn, cá nước ngọt

Xen ghép lúa chịu mặn, cá nước ngọt


Phòng NN-PTNT huyện Hương Trà, TT – Huế cho biết, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) thuộc Tổ chức Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) đã phối hợp với đơn vị triển khai dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững, tổng hợp tài nguyên thiên nhiên xã Hương Phong”.

Qua đó, dự án triển khai phục tráng giống lúa chịu mặn, mô hình nuôi thủy sản xen ghép, mô hình trồng lúa và nuôi cá, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật… tại thôn Thuận Hoà. Kết hợp nuôi tôm sú, cua và cá đối mục trên diện tích 2 ha, với 4 hộ dân tham gia. Ngoài ra, hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, chuyên gia tư vấn cho 20 hộ dân trong thôn.

Mỗi hộ nuôi được hỗ trợ chi phí giống, thức ăn; đối với hộ nuôi tôm được hỗ trợ 40%, mô hình nuôi cua, cá là 30% và hỗ trợ kinh phí thức ăn cho tôm và cua lần lượt là 30% và 20%. Phần chi phí thức ăn, giống còn lại do các hộ tham gia mô hình đóng góp. Các hộ tham gia mô hình còn đóng góp 100% chi phí cải tạo ao, vôi làm sạch môi trường, nhiên liệu, công chăm sóc và theo dõi sinh trưởng.

Sau 5 tháng thả nuôi, tỷ lệ sống đối với tôm sú là 55%, cá đối mục 50% và cua 60%. Trọng lượng trung bình, tôm sú đạt 38 con/kg, cua là 0,28 kg/con và cá đối là 0,25 kg/con đạt 95% so với yêu cầu đặt ra.

Ông Nguyễn Lương, ở thôn Thuận Hòa tham gia mô hình cho biết, gia đình tham gia thả nuôi trên diện tích 6.000m2, vừa trồng lúa và xen ghép với tôm, cua, cá. Sau vụ thu hoạch trừ lúa, mô hình cho lãi ròng trên 30 triệu đồng. Nuôi theo mô hình của dự án thì tỉ lệ tôm, cá, cua chết rất thấp dưới 5% và không bị bệnh, so với hộ nuôi thâm canh lại bị chết rất nhiều.





Qua mô hình cho thấy, cá đối mục phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết, ao hồ địa phương và nuôi xen ghép với tôm sú – cua đã giảm rủi ro cho các hộ nuôi, tạo thêm thu nhập ổn định. Dự án tiếp tục thử nghiệm các hộ nuôi tương tự và mở rộng thêm đối tượng nuôi xen ghép khác, như cá dìa, kình… với quy mô 4ha. Dự án sẽ tiếp tục thí điểm tại xã Hương Phong, huyện Hương Trà đến tháng 4/2012.
Vùi phế phụ phẩm giúp tăng năng suất cây trồng

Vùi phế phụ phẩm giúp tăng năng suất cây trồng


Sau nhiều năm nghiên cứu trên vùng đất bạc màu của tỉnh Bắc Giang, mới đây các nhà khoa học thuộc Viện thổ nhưỡng nông hóa (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) kết luận, việc bón phân chuồng và vùi lại các loại phế phụ phẩm nông nghiệp của vụ trước cho sản xuất vụ sau có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng.


Năng suất lúa tăng nhờ phế phụ phẩm nông nghiệp_ ảnh chụp tại cánh đồng huyện Mê Linh, Hà Nội. Hình chụp: Minh Cường
Cụ thể, cây ngô vụ đông trên nền đất bạc màu, không bón phân, không vùi phế phụ phẩm nông nghiệp, năng suất trung bình chỉ đạt 2,9 tạ/ha (năm 1998) và đạt 5,3 tạ/ha nếu bón bổ sung phân chuồng trên nền đất không vùi phế phụ phẩm. Nhưng nếu bón phân chuồng trên nền đất có vùi phế phụ phẩm, năng suất là 12,1 tạ/ ha.

Theo KS Ngô Xuân Hiền, Viện thổ nhưỡng nông hóa: Việc trả lại phế phụ phẩm nông nghiệp cho đất không chỉ góp phần làm tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng lượng mùn từ 0,06%- 0,46%, góp phần cải tạo độ phì nhiêu của đất.





Minh Cường – Báo Đất Việt
Ngô nếp lai HN88 - chất lượng nhất

Ngô nếp lai HN88 - chất lượng nhất


Vụ đông năm 2011, HTX dịch vụ nông nghiệp xã Xuy Xá, Mỹ Đức, Hà Nội đã trực tiếp đầu tư cho nông dân giống ngô nếp lai HN88 để trồng trình diễn với diện tích 2 ha trên chân đất 2 vụ lúa 1 màu. Đây là giống ngô nếp lai F1, bản quyền của Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương.

Ngày 17/12/2011, HTX dịch vụ nông nghiệp Xuy Xá đã phối hợp với Công ty CP giống cây trồng Trung ương tổ chức hội nghị đầu bờ giống ngô nếp lai HN88 tại địa bàn thôn Nội, xã Xuy Xá với sự tham gia của trên 100 đại biểu nông dân trong xã, Trạm khuyến nông, Trạm BVTV huyện Mỹ Đức và một số xã trong huyện.

Được cảm nhận trực tiếp kết quả của giống ngô nếp lai HN88 trên đồng ruộng với sự đồng đều của quần thể, tỷ lệ cây có bắp >95%, bắp to dài, đóng múp đến tận đỉnh…, đa số đại biểu đều rất hài lòng và mong muốn được tiếp tục phát triển giống ngô nếp lai mới này trong các mùa vụ gieo trồng tới.



Ông Nguyễn Văn Mã, Phó chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp xã Xuy Xá, khuôn mặt rạng rỡ, đi lại trên cánh đồng ngô nếp lai HN88 (ảnh) nhìn những luống ngô lừng lững bắp, trải dài, phấn khích bộc bạch: “Mô hình này chúng tôi đã thành công và đạt được 3 mục tiêu chính. Dân có lãi lớn, giải quyết được lao động dư thừa và quan trong hơn là đã tìm ra hướng đi mới để làm giàu mà bao năm chúng tôi trăn trở. Kế hoạch trong vụ đông 2012, chúng tôi sẽ mở rộng diện tích trồng HN88 lên 185 ha. Cái lo nhất của người dân là giải quyết đầu ra thì ban lãnh đạo chúng tôi đã có hướng khả thi rồi. Đấy anh xem, ngay vụ này, nếu bán ngay tại ruộng, nhiều thương lái cũng sẵn sàng mua ngay với giá cao, chí ít cũng phải được ba nghìn rưỡi một bắp rồi anh ạ”.

Chị Phạm Thị Mận, xã viên đội 8 cho biết: giống ngô này cho bắp to, năng suất cao không kém gì ngô tẻ nhưng bán bắp luộc làm hàng hóa thì có giá trị kinh tế hơn nhiều, giống cũng dễ làm, ít sâu bệnh và không tốn nhiều công… Vụ sau gia đình tôi nhất định sẽ trồng và mong muốn bà con nông dân khác cùng trồng để tăng thêm thu nhập.

Đại diện cho Trạm Khuyến nông huyện Mỹ Đức, chị Nguyễn Thị Khanh, Trưởng trạm hoàn toàn ủng hộ và mong muốn mở rộng mô hình ra toàn huyện vì qua nhiều năm theo dõi và chỉ đạo một số xã trồng thử giống ngô HN88 thì đây là giống ngô nếp lai cho năng suất cao và chất lượng ngon nhất trên thị trường Mỹ Đức hiện nay. Trạm sẽ kiến nghị UBND huyện mở rộng diện tích trồng HN88 và tiếp tục khuyến cáo bà con nông dân tiếp thu kết quả mô hình, đưa giống ngô nếp lai HN88 vào chân đất màu, đất vụ đông tăng vụ, đất chuyển đổi từ trồng lúa không chủ động nước, năng suất thấp sang trồng ngô hàng hóa. Đây là hướng đi đúng, giúp bà con tăng nhanh thu nhập để làm giàu.

Một số đặc điểm chính của HN88: Lột vỏ ngoài, năng suất 420-450kg/sào. Chất lượng bắp luộc ăn tươi rất ngon, ăn nguội vẫn dẻo, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng. Cây sinh trưởng khỏe, kháng sâu bệnh, chịu úng, hạn và rét tốt. Khoảng cách trồng 70 x 25cm. Bón 5-10 tấn phân chuồng, 300kg urê, 500- 550kg supe lân, 150-180 kaliclorua/ha. Khuyến cáo sử dụng NPK thay thế các loại phân trên. HN88 có thể trồng quanh năm trên nhiều loại đất nhưng phải đảm bảo đủ nước và tránh thời điểm khi cây ngô trỗ cờ, phun râu gặp điều kiện nhiệt độ cao (>33oC), khô hanh hoặc thời tiết rét đậm để đảm bảo đạt năng suất và hiệu quả cao nhất.

Để biết thêm thông tin, bạn đọc có thể liên hệ Công ty CP Giống cây trồng Trung ương qua điện thoại: 0438523294, 0438523267, 0913580247.




Nguồn: nongnghiep.vn
Thủy Canh - Trồng cây không cần đất

Thủy Canh - Trồng cây không cần đất


Thủy canh thường được định nghĩa như là "Trồng cây trong nước". Tuy nhiên do có rất nhiều môi trường tổng hợp được sử dụng để trồng cây nên có thể mở rộng định nghĩa thủy canh là " trồng cây không sử dụng đất".

Từ nhiều thế kỷ trước ở vunAmmaaazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ, người xưa đã biết sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác. Sau đó các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng cây trên môi trường dung dịch dinh dưỡng đặc biệt để thí nghiệm và gọi là "nuôi cấy dinh dưỡng".

Năm 1929, William F. GoGGoricke đã thàn công trong việc trồng cây cà chua đạt kích thước 7,5 m trong dịch dinh dưỡng. Ông gọi hệ thống mới này là "thủy canh" ("Hydroponic" - theo tiếng Hy Lạp, hydros là 'nước" và ponos là "làm việc"). Từ đó, thủy canh được ứng dụng và phát triển rộng rãi, và mở rộng thành các phương pháp trồng cây trên môi trường rắn trơ sử dụng dung dịch dinh dưỡng.

Việc trồng cây không có đất thật sự đem lại rất nhiều thuận lợi. Khi sử dụng một môi trường sạch khuẩn và không phải lo lắng đến việc trừ cỏ dại, trừ sâu và các côn trùng có hại trong đất. Hơn nữa khi dùng kỹ thuật thủy canh, cây trồng sẽ có được môi trường sống đầy đủ các thành phần dinh dưỡng thiết yếu. Do vậy cây sẽ sinh truỏng và phát triển nhanh hơn, việc canh tác cũng đơn giản hơn đối với cây rau và hoa. Một thuânnj lợi lớn của kỹ thuật thủy canh là cho phép thiết lập hệ thống nuôi trồng tự động. Khi sử dụng hệ thống tự động, người làm vườn có thể linh hoạt được thời gian chăm sóc cây trồng.

Trong tương lai, khi dân số ngày một gia tăng, đời sống được nâng cao, đất đai trở nên khan hiếm, thì kỹ thuật thủy canh dần dần thay thế phương pháp trồng trọt truyền thống. Vì không những mang lại món lợi nhuận không lồ cho ngành nông nghiệp, kỹ thuật này còn giúp giữ gìn môi trường được trong sạch, đây chính là mục tiêu được coi trọng hàng đầu để góp phần năng cao chất lượng cuộc sống của con người.

* Ưu điểm của kỹ thuật thủy canh:
- Không cần đất, chỉ cần không gian để đặt hộp dụng cụ trồng, do vậy có thể triển khai ở những vùng đất cằn cỗi như hải đảo, vùng núi xa xôi cũng như tại gia đình sân thượng, balcon.
- Không phải làm đất, không có cỏ dại, không cần tưới.
- Trồng được nhiều vụ, có thể trồng trái vụ,
- Không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và các hóa chất độc hại khác.
- Năng suất cao vì có thể trồng liên tục.
- Sản phẩm hoàn toàn sạch, đồng nhất. Giàu dinh dưỡng và tươi ngon.
- Không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường.
- Không đòi hỏi lao động nặng nhọc, người già trẻ em đều ó thể tham gia hiệu quả

* Nhược điểm của kỹ thuật thủy canh
- Vốn đầu tư ban đầu cao do chí phí về trang thiết bị. Tuy nhiên, chi phí này không phải là cao so với những chi phí phải trả để diệt sâu bệnh và côn trùng, thuê nhân công. Hơn nữa các máy móc thiết bị được tái sử dụng nhiều lần nên chỉ tốn chi phí đầu tư cho ban đàu.
- Đòi hỏi trình độ chuyên mộ kỹ thuật cao để sản xuất có hiệu quả. Điều này gây trở ngại cho việc đưa phương pháp thủy canh mở rộng đại trà.
- Trong quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, thực vật làm thay đổi độ pH trong dung dịch thủy canh. Do đó, cần phải điều chỉnh pH mồi ngày. Giá trị pH tối thích từ khoảng 5.8 - 6.5. giá trị pH càng chênh lệch khỏi khoảng này thì mức độ ảnh hưởng không tốt lên hệ thống thủy canh càng lơn.




- Ngoài ra, những yếu tố thay đổi đột ngột môi trường cũng như việc cung cấp chất dinh dưỡng hay tưới nước không đúng có thể gây ra những triệu chứng rối loạn sinh lý ở cây (như hiện tượng thối quả cà chua, nứt quả cà chua).
Làm mát trái đất bằng bóng bay

Làm mát trái đất bằng bóng bay

Dự án phun nước vào tầng bình lưu (Spice) chủ trương phun những giọt nước nhỏ vào tầng khí quyển từ một quả bóng bay bị “xích” với mặt đất.
Nhưng dự án tiên phong ở Anh nhằm cứu vãn khí hậu trái đất đã bị trì hoãn ít nhất một năm nay. Bộ thiết bị này cũng sẽ được sử dụng để phun những hạt nước vô cùng nhỏ xuống để làm mát trái đất, giống như hoạt động của núi lửa.
Những người đứng đầu dự án nói rằng Spice bị cản trở do các nguyên nhân luật pháp, sở hữu trí tuệ và sự tham gia của cộng đồng.
Hồ sơ xin cấp bằng sáng chế được soạn thảo bởi hai nhà khoa học ở ĐH Cambridge Hugh Hunt và Chris Burgoyne cùng doanh nhân sống trên Đảo Man (thuộc Anh) Peter Davidson, những người chịu trách nhiệm chính về công nghệ của dự án.
Mô hình hoạt động của dự án làm mát khí hậu bằng bóng bay. (Nguồn: BBC) 
Theo các thành viên của Spice, thì một dự án mang tính cộng đồng phi lợi nhuận như vậy không cần phải đăng ký bản quyền, vì nó sẽ không mang lại khoản lãi nào.
Hội đồng nghiên cứu khoa học vật lý và công trình (EPSRC), đơn vị tài trợ cho dự án, đã trì hoãn thêm 6 tháng để cho phép những bên quan tâm có thể tham gia vào.
Một lý do khác khiến dự án bị hoãn là dù nó đã được thảo luận tại nhiều diễn đàn quốc tế, trong đó có Hội nghị Liên hợp quốc về đa dạng sinh học, thì vẫn chưa có cơ chế toàn diện nào để quản lý loại dự án này.
Đáng lẽ quả bóng bay đã được đưa lên không trung từ tháng 10 năm ngoái từ phi trường Sculthorpe ở Norfolk (Anh). Quả bóng dự kiến sẽ được giữ ở độ cao 1km. Nước được bơm lên bóng qua đường ống từ mặt đất. Các nhà khoa học chịu trách nhiệm quản lý lượng nước phun ra, và quả bóng cùng dây nối sẽ thay đổi như thế nào trước tác động của gió.
Nhóm nghiên cứu dự định sử dụng thông tin thu được để phát triển bộ thiết bị lớn hơn nhiều đưa lên cao hơn nhằm phun các hạt sunfat phản chiếu ánh nắng mặt trời ngược trở lại không gian, từ đó giúp làm mát trái đất.
Làm giảm năng lượng mặt trời chiếu xuống mặt đất là một trong hai phương pháp điều hòa khí hậu trái đất đang được nhiều người quan tâm hiện nay. Phương pháp còn lại là sử dụng một lá chắn mặt trời khổng lồ để phản chiếu ánh nắng mặt trời.Các biện pháp như sơn mái nhà màu trắng, trồng những loại cây có lá phản quang tốt cũng là cách giúp trái đất mát mẻ hơn.
Những người phản đối, trong đó có nhiều nhóm môi trường, cho rằng những công nghệ này có thể gây ra nhiều hậu quả không mong muốn, và nhằm lẩn tránh nhiệm vụ phải giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.



Ngoài ra, các biện pháp trên không giải quyết được tình trạng axit hóa đại dương dần dần do các đại dương hấp thu carbon dioxit từ khí quyển.Nhưng những người ủng hộ cho rằng những công nghệ đó là cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, nên cần có phản ứng khẩn cấp.
Liên hệ nhanh
Copyright © 2013 Su dung phan bon All Right Reserved